Đục thủy tinh thể: Nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và cách điều trị
Nội dung chỉ cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế chẩn đoán, khám hoặc điều trị của người hành nghề y tế. Không tự ý dùng, ngừng hoặc thay đổi thuốc dựa trên bài viết.
Đục thủy tinh thể là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến suy giảm thị lực và mù lòa có thể phòng ngừa tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Tình trạng bệnh lý này đặc trưng bởi sự suy giảm tính trong suốt của thấu kính tự nhiên bên trong nhãn cầu, khiến các tia sáng bị cản trở và tán xạ trên đường truyền tới võng mạc. Mặc dù bệnh lý này xuất hiện phổ biến nhất ở nhóm người cao tuổi do quá trình thoái hóa sinh học tự nhiên, các tác nhân khác như chấn thương cơ học, phơi nhiễm bức xạ nhiệt, rối loạn chuyển hóa toàn thân hoặc bất thường bẩm sinh cũng có thể gây bệnh ở mọi lứa tuổi.

Quá trình mờ đục thể thủy tinh thường khởi phát và tiến triển âm thầm, không gây đau nhức, không gây đỏ mắt hay kích ứng trong giai đoạn đầu. Điều này khiến nhiều người bệnh chủ quan và dễ nhầm lẫn với sự biến động độ khúc xạ tuổi già thông thường. Nếu không được phát hiện sớm và can thiệp y khoa đúng thời điểm, bệnh có thể tiến triển sang các giai đoạn nặng hơn, làm mất thị lực nghiêm trọng và tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện các biến chứng cấp tính nguy hiểm như glôcôm góc đóng thứ phát hay viêm màng bồ đào.
Việc thăm khám định kỳ tại các cơ sở chuyên khoa mắt đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá chính xác vị trí và mức độ đục của thể thủy tinh. Dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng và các phương pháp thăm dò hình ảnh hiện đại, bác sĩ chuyên khoa mắt sẽ tư vấn phương án theo dõi bảo tồn hoặc chỉ định can thiệp ngoại khoa thay thể thủy tinh nhân tạo phù hợp nhằm phục hồi thị lực và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Tổng quan về đục thủy tinh thể
Trong cấu trúc giải phẫu học của mắt, thể thủy tinh là một thấu kính quang học hai mặt lồi, hoàn toàn trong suốt và có tính đàn hồi cao, nằm ngay phía sau mống mắt và phía trước khối dịch kính. Thể thủy tinh đóng vai trò then chốt trong hệ thống quang học nhãn cầu nhờ khả năng thay đổi độ cong linh hoạt trong cơ chế điều tiết, giúp hội tụ chính xác các chùm tia sáng đi từ môi trường bên ngoài trực tiếp lên bề mặt hoàng điểm võng mạc. Nhờ cơ chế sinh lý này, mắt có thể quan sát rõ nét các vật thể ở nhiều khoảng cách khác nhau từ cự ly gần đến cự ly xa.
Về phương diện sinh hóa và sinh học phân tử, cấu trúc thể thủy tinh có thành phần chủ yếu gồm nước chiếm khoảng sáu mươi lăm phần trăm và mạng lưới các protein chuyên biệt chiếm khoảng ba mươi lăm phần trăm, trong đó các protein họ crystallin được sắp xếp với mật độ và trật tự cấu trúc vi thể cực kỳ chặt chẽ nhằm duy trì độ trong suốt quang học hoàn hảo. Thể thủy tinh là một cấu trúc vô mạch và không có phân bố dây thần kinh, được nuôi dưỡng hoàn toàn thông qua quá trình thẩm thấu dưỡng chất từ thủy dịch ở tiền phòng và dịch kính ở phía sau.
Đục thủy tinh thể là thuật ngữ y khoa dùng để chỉ tình trạng thể thủy tinh bị mất đi tính trong suốt quang học vốn có do nhiều căn nguyên bệnh sinh tác động. Khi xảy ra các biến đổi tiêu cực dưới tác động của quá trình lão hóa, rối loạn dị hóa glucose, mất cân bằng oxy hóa hoặc tổn thương vật lý, các chuỗi protein crystallin bị biến tính, kết tụ thành từng cụm không đồng nhất và phá vỡ cấu trúc không gian ban đầu. Hiện tượng này làm cho thể thủy tinh trở nên mờ đục, làm cản trở và tán xạ đường đi của các tia sáng, khiến hình ảnh hội tụ trên võng mạc bị nhòe mờ, méo mó và suy giảm độ sắc nét nghiêm trọng.
Về phương diện dịch tễ học, đục thủy tinh thể có thể khởi phát ở bất kỳ giai đoạn nào của đời người nhưng ghi nhận tỷ lệ mắc cao nhất ở nhóm người từ năm mươi tuổi trở lên và gia tăng nhanh chóng theo từng mốc tuổi thọ. Bệnh lý này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu các bệnh gây giảm thị lực và là nguyên nhân của hơn bảy mươi phần trăm các trường hợp mù lòa tại Việt Nam. Điểm quan trọng của đục thủy tinh thể là khả năng phục hồi thị lực hoàn toàn nếu người bệnh được chẩn đoán chính xác và thực hiện can thiệp phẫu thuật tán nhuyễn siêu âm thay thể thủy tinh nhân tạo kịp thời trước khi xuất hiện các tổn hại thần kinh thị giác không thể hồi phục.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ dẫn đến đục thủy tinh thể rất đa dạng, bao gồm quá trình thoái hóa sinh học do tuổi tác, dị tật bẩm sinh, tổn thương chấn thương, phơi nhiễm bức xạ, bệnh lý chuyển hóa toàn thân và tác dụng phụ của thuốc:
Đục thủy tinh thể do tuổi già:
- Đây là nhóm nguyên nhân phổ biến hàng đầu gây giảm thị lực ở người cao tuổi trên phạm vi toàn cầu. Cơ chế bệnh sinh cốt lõi liên quan đến sự suy giảm hoạt động trao đổi chất và rối loạn quá trình dị hóa glucose bên trong các tế bào biểu mô thể thủy tinh theo thời gian. Sự mất cân bằng này làm giảm tổng hợp các chất chống oxy hóa nội sinh như glutathione, dẫn đến hiện tượng tích tụ các gốc tự do, biến tính protein sợi thấu kính và làm hình thành các vùng đục nhân, đục vỏ hoặc đục dưới bao tiến triển.
Đục thủy tinh thể bẩm sinh ở trẻ em:
- Tình trạng mờ đục thể thủy tinh xuất hiện ngay từ khi trẻ mới sinh ra hoặc hình thành trong giai đoạn nhũ nhi đầu đời. Căn nguyên có thể bắt nguồn từ các bất thường đột biến gen di truyền theo tính trạng trội hoặc lặn, hoặc là hậu quả của tình trạng nhiễm trùng phôi thai trong thai kỳ khi người mẹ mắc các bệnh lý truyền nhiễm như rubella, toxoplasma, cytomegalovirus, giang mai hoặc herpes sinh dục trong ba tháng đầu mang thai.
Tác động của chấn thương mắt:
Chấn thương nhãn cầu do tác động cơ học, vật lý hoặc thẩm thấu là nguyên nhân gây đục thể thủy tinh nhanh chóng hoặc để lại các di chứng mờ đục muộn:
- Chấn thương đụng dập: Lực tác động cơ học mạnh từ bên ngoài vào nhãn cầu có thể gây biến dạng cấu trúc, làm hình thành vết đục hình hoa hồng hoặc hình sao đặc trưng tại vùng bao sau nằm trên trục quang học. Đụng dập nặng có thể làm rách bao thấu kính khiến thủy dịch ngấm ồ ạt vào trong làm các sợi thấu kính trương phồng và đục cấp tính, hoặc làm đứt một phần hay toàn bộ hệ thống dây chằng Zinn dẫn đến lệch hoặc sa thể thủy tinh vào buồng dịch kính.
- Chấn thương xuyên: Các vật thể sắc nhọn đâm xuyên qua giác mạc làm rách trực tiếp bao thể thủy tinh, khiến dịch tiền phòng tràn vào làm sợi vỏ thấu kính ngấm nước và đục dần. Khi vết rách bao quá rộng, các mảnh chất thể thủy tinh có thể phòi ra ngoài tiền phòng, kích hoạt phản ứng viêm nội nhãn dữ dội.
Tác nhân bức xạ và hóa chất độc hại:
Thể thủy tinh là một trong những mô nhạy cảm nhất của cơ thể đối với các dạng bức xạ năng lượng:
- Bức xạ ion hóa: Các tia phóng xạ hoặc tia X trong dải bước sóng từ 0,001 đến 10 nanomet có thể gây đục thể thủy tinh ở những cá nhân phơi nhiễm liều thấp kéo dài hoặc tiếp xúc liều cao trong xạ trị vùng đầu mặt cổ.
- Bức xạ hồng ngoại và nhiệt độ cao: Thường gặp ở những người làm việc trong môi trường công nghiệp luyện kim hoặc thợ thổi thủy tinh thủ công do hấp thụ nhiệt lượng bức xạ liên tục trong thời gian dài.
- Bức xạ tử ngoại: Tia cực tím nhóm UVA và UVB từ ánh nắng mặt trời là yếu tố thúc đẩy quá trình oxy hóa quang hóa protein thể thủy tinh ở những người làm việc ngoài trời nhiều năm mà không có trang bị bảo vệ mắt.
- Bức xạ sóng ngắn: Tiếp xúc với vi sóng cường độ mạnh trong thời gian dài cũng có thể gây biến tính nhiệt cấu trúc protein thấu kính.
- Tổn thương do hóa chất: Bỏng mắt do các chất kiềm mạnh có khả năng hòa tan lipid và thẩm thấu sâu vào nội nhãn rất nhanh, thường dẫn đến đục thể thủy tinh toàn bộ và hoại tử mô mắt nặng nề. Bỏng do axit thường gây kết tủa protein bề mặt nên ít có khả năng xâm nhập sâu gây đục thể thủy tinh hơn so với bỏng kiềm.
Bệnh lý toàn thân và rối loạn chuyển hóa:
- Bệnh đái tháo đường: Là bệnh lý nội tiết chuyển hóa có liên quan chặt chẽ nhất với đục thủy tinh thể. Bệnh nhân có thể mắc đục thủy tinh thể dạng bông tuyết thực sự ở người trẻ tuổi khi không kiểm soát tốt đường huyết. Ngoài ra, sự tăng đường huyết mạn tính làm kích hoạt con đường polyol, dẫn đến sự tích lũy sorbitol nội bào trong thể thủy tinh, gây biến đổi áp suất thẩm thấu, ngấm nước hydrat hóa và tăng phản ứng glycosyl hóa protein, từ đó thúc đẩy đục thể thủy tinh tuổi già xuất hiện sớm hơn và tiến triển nhanh hơn.
- Bệnh hạ canxi huyết: Gặp trong hội chứng tetani hoặc suy tuyến cận giáp, thường gây đục thể thủy tinh ở cả hai mắt với biểu hiện đặc trưng là những chấm đục óng ánh li ti ở vỏ trước và vỏ sau nằm dưới bao, cách biệt với bao bởi một lớp mô trong suốt.
- Viêm màng bồ đào mạn tính: Phản ứng viêm tái phát nhiều lần tại mống mắt và thể mi làm thay đổi thành phần sinh hóa của thủy dịch, dẫn đến lắng đọng sắc tố trên mặt trước thấu kính, dính mống mắt và hình thành đục thể thủy tinh dưới bao sau thứ phát.
Tác dụng phụ do sử dụng thuốc kéo dài:
- Việc sử dụng kéo dài các thuốc thuộc nhóm corticosteroid dù qua đường tra mắt tại chỗ, đường uống toàn thân, dạng tiêm hay dạng hít liều cao đều làm tăng nguy cơ phát triển đục thể thủy tinh dưới bao sau.
- Ngoài ra, một số loại dược chất khác dùng trong điều trị chuyên khoa cũng có nguy cơ gây đục thể thủy tinh thứ phát bao gồm nhóm thuốc hướng tâm thần phenothiazin, thuốc chống loạn nhịp tim amiodarone, các thuốc ức chế men cholinesterase và nhóm thuốc co đồng tử kéo dài.
Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp
Biểu hiện lâm sàng của bệnh đục thủy tinh thể rất đa dạng, diễn biến từ từ và phụ thuộc chặt chẽ vào vị trí giải phẫu của khối đục (đục nhân, đục vỏ hay đục dưới bao sau), mức độ mờ đục và tốc độ tiến triển của bệnh qua từng giai đoạn:
Biểu hiện lâm sàng trong giai đoạn sớm:
- Giảm thị lực từ từ không đau nhức: Nhìn mờ là triệu chứng kinh điển và phổ biến nhất. Người bệnh có cảm giác như nhìn qua một tấm kính mờ phủ hơi sương hoặc nhìn qua màn khói. Trong giai đoạn khởi phát, độ trong của vùng trung tâm có thể chưa bị ảnh hưởng nhiều nên thị lực nhìn gần đọc sách vẫn tương đối rõ trong khi khả năng nhìn xa bắt đầu suy giảm.
- Hiện tượng chói sáng và lóa mắt: Thể thủy tinh bị đục làm tán xạ các chùm tia sáng đi vào mắt thay vì hội tụ tập trung. Người bệnh cảm thấy chói mắt khó chịu khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời gay gắt hoặc khi gặp ánh đèn pha ô tô, xe máy chiếu thẳng vào ban đêm. Ngược lại, khi ở trong không gian râm mát hoặc nơi có ánh sáng dịu, đồng tử giãn nhẹ giúp ánh sáng đi qua các vùng thể thủy tinh còn trong suốt ở ngoại vi, người bệnh thường cảm thấy nhìn rõ ràng và thoải mái hơn.
- Hiện tượng giả cận thị: Sự xơ cứng và tăng thể tích của vùng nhân thể thủy tinh làm gia tăng chiết suất và công suất hội tụ quang học của mắt. Điều này tạo ra một tật cận thị thứ phát, khiến những người lớn tuổi trước đây phải đeo kính lão khi đọc sách nay đột nhiên có thể đọc chữ bình thường mà không cần kính. Tuy nhiên, hiện tượng này chỉ mang tính tạm thời và người bệnh thường phải thay đổi độ kính liên tục do khúc xạ mắt biến động không ngừng.
- Song thị hoặc đa thị một mắt: Người bệnh nhìn thấy một vật thể bị nhân đôi thành hai hình ảnh hoặc nhìn thành nhiều bóng mờ tách rời. Dấu hiệu này vẫn tồn tại rõ rệt ngay cả khi người bệnh che một mắt lại, nguyên nhân do ánh sáng bị khúc xạ lệch hướng qua các vùng đục có mật độ không đồng đều bên trong thấu kính.
- Suy giảm nhận thức màu sắc: Các vật thể xung quanh dần mất đi độ rực rỡ và tươi sáng ban đầu, người bệnh có xu hướng nhìn mọi cảnh vật ngả dần sang tông màu vàng, màu hổ phách hoặc xám nâu nhạt.
Dấu hiệu khi bệnh tiến triển sang giai đoạn nặng:
- Thị lực suy giảm nghiêm trọng ở mọi cự ly quan sát từ xa đến gần, việc điều chỉnh kính mắt không còn mang lại hiệu quả cải thiện thị lực.
- Khối đục lan rộng toàn bộ thể thủy tinh làm ngăn chặn hầu hết các tia sáng truyền vào đáy mắt. Ở giai đoạn đục chín hoàn toàn hoặc quá chín, thị lực người bệnh sụt giảm nghiêm trọng, chỉ còn khả năng phân biệt được bóng bàn tay chuyển động sát mắt hoặc chỉ nhận thức được sáng tối.
- Quan sát trực tiếp vùng đồng tử của người bệnh bằng mắt thường có thể thấy đồng tử mất đi màu đen láy tự nhiên, thay vào đó là màu trắng xám, màu trắng đục như sữa hoặc màu vàng sẫm.
Dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm và các điểm dễ nhầm lẫn:
- Dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm cần khám khẩn cấp: Nếu mắt đột ngột xuất hiện cơn đau nhức dữ dội lan lên trán, hốc mắt và nửa đầu cùng bên, mắt đỏ ửng kèm theo nhìn thấy quầng sáng tròn nhiều màu sắc quanh nguồn sáng và có cảm giác buồn nôn, đây là biểu hiện của cơn glôcôm góc đóng cấp tính do thể thủy tinh phồng to gây nghẽn đồng tử hoặc phản ứng viêm màng bồ đào cấp do rò rỉ chất protein thể thủy tinh. Tình trạng này đòi hỏi người bệnh phải đến cơ sở y tế cấp cứu ngay lập tức để tránh tổn thương mất thị lực vĩnh viễn.
- Các điểm dễ nhầm lẫn cần lưu ý: Đục thủy tinh thể điển hình ở giai đoạn chưa biến chứng có đặc trưng cốt lõi là không gây đau đớn, không gây ngứa rát, không chảy nước mắt sống và không gây đỏ mắt. Cần phân biệt triệu chứng nhìn mờ của đục thủy tinh thể với các bệnh lý nguy hiểm khác tại đáy mắt như thoái hóa hoàng điểm tuổi già, bệnh võng mạc đái tháo đường, teo gai thị hoặc tắc tĩnh mạch trung tâm võng mạc.
Chẩn đoán
Quy trình chẩn đoán đục thủy tinh thể đòi hỏi sự đánh giá toàn diện, tỉ mỉ của bác sĩ chuyên khoa mắt thông qua kết hợp khai thác chi tiết bệnh sử, thăm khám lâm sàng trên hệ thống thiết bị chuyên dụng và thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng cần thiết:
Khai thác tiền sử và bệnh sử lâm sàng:
- Bác sĩ chuyên khoa trao đổi cặn kẽ với người bệnh về thời gian bắt đầu xuất hiện triệu chứng nhìn mờ, tốc độ suy giảm thị lực, mức độ chói lóa mắt khi tiếp xúc ánh sáng và tần suất phải thay đổi độ kính mắt.
- Đồng thời, bác sĩ ghi nhận đầy đủ tiền sử chấn thương mắt trước đây, các bệnh lý viêm nhiễm nội nhãn mạn tính, tiền sử phẫu thuật mắt, các bệnh lý toàn thân đi kèm đặc biệt là đái tháo đường và tăng huyết áp, cũng như tiền sử sử dụng các loại thuốc dài ngày, đặc biệt là thuốc corticosteroid tại chỗ hoặc toàn thân.
Thăm khám lâm sàng chuyên khoa mắt:
- Đo thị lực và kiểm tra khúc xạ toàn diện: Thực hiện kiểm tra thị lực không chỉnh kính và thị lực có chỉnh kính tối đa ở cả cự ly nhìn xa và nhìn gần để xác định mức độ suy giảm chức năng thị giác và đánh giá khả năng cải thiện thị lực bằng kính mắt.
- Khám bằng kính sinh hiển vi đèn khe: Đây là phương pháp thăm khám nòng cốt và quan trọng nhất trong chẩn đoán đục thủy tinh thể. Dưới nguồn sáng khuếch đại có thể điều chỉnh góc chiếu và khe sáng quang học, bác sĩ quan sát chi tiết từng lớp giải phẫu của thể thủy tinh để xác định chính xác vị trí đục (đục nhân, đục vỏ, đục dưới bao trước hay dưới bao sau), đánh giá mức độ đục theo thang phân loại lâm sàng, kiểm tra độ cứng của nhân thể thủy tinh, tình trạng toàn vẹn của bao trước, bao sau và sự vững chắc của hệ thống dây chằng Zinn.
- Đo nhãn áp nhãn cầu: Sử dụng nhãn áp kế chuẩn để tầm soát áp lực nội nhãn, giúp phát hiện sớm nguy cơ tăng nhãn áp phối hợp hoặc phát hiện biến chứng glôcôm thứ phát do thể thủy tinh phồng to làm nghẽn góc tiền phòng.
- Khám đáy mắt sau khi tra thuốc giãn đồng tử: Bác sĩ sử dụng kính soi đáy mắt trực tiếp hoặc gián tiếp để quan sát chi tiết đĩa thị giác, hệ thống mạch máu võng mạc và vùng hoàng điểm. Bước thăm khám này giúp loại trừ các bệnh lý đáy mắt phối hợp như thoái hóa hoàng điểm tuổi già, bệnh võng mạc đái tháo đường hay phù gai thị, từ đó đưa ra tiên lượng chính xác về khả năng phục hồi thị lực của người bệnh sau can thiệp phẫu thuật.
Các kỹ thuật cận lâm sàng và thăm dò hình ảnh hỗ trợ:
- Siêu âm mắt: Trong những trường hợp thể thủy tinh bị đục quá đặc hoặc đục chín hoàn toàn cản trở chùm ánh sáng soi đáy mắt, siêu âm mắt là chỉ định bắt buộc để kiểm tra tình trạng buồng dịch kính, phát hiện nguy cơ bong võng mạc, xuất huyết dịch kính hoặc các khối u nội nhãn.
- Đo sinh trắc học nhãn cầu và tính công suất thấu kính nội nhãn: Bác sĩ thực hiện đo chiều dài trục nhãn cầu, độ sâu tiền phòng và độ cong giác mạc bằng các thiết bị quang học hoặc siêu âm chuyên dụng. Dữ liệu này được đưa vào các công thức tính toán nhãn khoa hiện đại để lựa chọn chính xác công suất quang học của thể thủy tinh nhân tạo cần cấy ghép cho từng mắt của người bệnh.
- Chụp ảnh cắt lớp quang học võng mạc (OCT): Được chỉ định khi môi trường quang học cho phép nhằm đánh giá chi tiết vi cấu trúc hoàng điểm và lớp sợi thần kinh quanh gai thị trước phẫu thuật.
Giới hạn của việc tự nhận biết và nguy cơ chẩn đoán muộn:
- Người bệnh chỉ có thể nhận biết cảm giác chủ quan là nhìn mờ hoặc lóa mắt nhưng hoàn toàn không thể tự xác định được hình thái đục, giai đoạn tiến triển hay loại trừ các tổn thương phối hợp tại thần kinh thị giác và võng mạc. Việc người bệnh tự ý đi đo mắt và mua kính tại các cơ sở kính mắt thông thường hoặc tự dùng các loại thuốc nhỏ mắt khi chưa có thăm khám chuyên sâu có thể làm chậm trễ thời điểm can thiệp ngoại khoa tối ưu. Do đó, việc thăm khám định kỳ bởi bác sĩ chuyên khoa mắt là yêu cầu bắt buộc để đưa ra chẩn đoán chính xác và xây dựng phác đồ can thiệp an toàn.
Biến chứng nguy hiểm của bệnh đục thủy tinh thể
Nếu không được phát hiện sớm và can thiệp y khoa kịp thời, bệnh đục thủy tinh thể có thể tiến triển nặng và gây ra nhiều biến chứng nhãn khoa phức tạp, đe dọa nghiêm trọng đến chức năng thị giác của người bệnh:
Glôcôm cấp do nghẽn đồng tử:
- Trong giai đoạn tiến triển, các sợi thấu kính bị thoái hóa ngấm nước khiến thể thủy tinh trương phồng làm gia tăng thể tích nhãn cầu trước. Thể thủy tinh phồng to đẩy mống mắt áp sát ra phía trước làm nghẽn góc tiền phòng và cản trở hoàn toàn con đường lưu thông tự nhiên của thủy dịch. Tình trạng này khiến áp lực nội nhãn tăng vọt đột ngột, gây ra cơn glôcôm cấp với triệu chứng đau nhức dữ dội và có thể phá hủy hoàn toàn lớp tế bào thần kinh thị giác không thể phục hồi chỉ trong một thời gian ngắn nếu không được hạ áp khẩn cấp.
Viêm màng bồ đào trước do chất thể thủy tinh:
- Khi đục thủy tinh thể chuyển sang giai đoạn quá chín, vỏ bao thấu kính bị thoái hóa mỏng dần hoặc xuất hiện các vết nứt vi thể làm rò rỉ các chuỗi protein thể thủy tinh bị biến tính ra ngoài buồng tiền phòng. Các protein này đóng vai trò như những kháng nguyên lạ, kích hoạt phản ứng miễn dịch viêm màng bồ đào tự miễn rầm rộ, gây tích tụ tế bào viêm ở tiền phòng, dính mống mắt và làm tăng áp lực nội nhãn phức tạp.
Sa lệch thể thủy tinh:
- Xảy ra khi hệ thống dây chằng Zinn có chức năng nâng đỡ thấu kính bị thoái hóa nặng nề, đứt rách một phần hoặc đứt hoàn toàn do chấn thương cơ học hoặc do quá trình đục quá chín kéo dài. Thể thủy tinh bị lệch khỏi trục quang học hoặc rơi tự do vào buồng dịch kính phía sau, gây tổn thương đáy mắt và kích phát phản ứng viêm mạn tính khó điều trị.
Biến chứng nhược thị ở trẻ em:
- Đục thể thủy tinh bẩm sinh hoặc đục xuất hiện sớm trong những năm đầu đời nếu không được phẫu thuật kịp thời sẽ cản trở hoàn toàn sự dẫn truyền ánh sáng lên võng mạc trong giai đoạn phát triển vàng của hệ thần kinh thị giác. Hậu quả là trung tâm thị giác tại vỏ não không thể hoàn thiện các liên kết chức năng, dẫn đến tình trạng nhược thị sâu và mất thị lực vĩnh viễn dù có phẫu thuật thay thấu kính ở giai đoạn trưởng thành sau này.
Mù lòa vĩnh viễn:
- Đục thủy tinh thể toàn bộ để tiến triển tự nhiên mà không có can thiệp y tế sẽ làm mất hoàn toàn khả năng thu nhận ánh sáng của mắt, đưa người bệnh đến tình trạng mù lòa thực thể và đánh mất hoàn toàn khả năng tự phục vụ trong cuộc sống hàng ngày.
Đặc điểm đục thủy tinh thể ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Đục thủy tinh thể ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là một bệnh cảnh nhãn khoa chuyên biệt với nhiều đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với đục thủy tinh thể ở người lớn tuổi:
Căn nguyên khởi phát:
- Bệnh có thể xuất hiện bẩm sinh ngay sau khi trẻ chào đời do các đột biến gen di truyền hoặc là hậu quả của tình trạng người mẹ bị nhiễm trùng phôi thai trong ba tháng đầu thai kỳ bởi các tác nhân nguy hiểm như virus rubella, ký sinh trùng toxoplasma, virus cytomegalovirus hay virus herpes. Ngoài ra, một số bệnh lý rối loạn chuyển hóa bẩm sinh như galactosemia hoặc hội chứng Down cũng làm gia tăng nguy cơ đục thể thủy tinh ở trẻ sơ sinh.
Dấu hiệu nhận biết gián tiếp:
Do trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ chưa thể tự nhận biết và diễn đạt tình trạng suy giảm thị lực bằng lời nói, việc phát hiện bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào sự quan sát cẩn thận của phụ huynh và người chăm sóc:
- Dấu hiệu đồng tử ánh trắng: Khi nhìn vào mắt trẻ dưới ánh sáng tự nhiên hoặc quan sát ảnh chụp có bật đèn flash ban đêm, vùng đồng tử của trẻ không có màu đen tròn hoặc ánh hồng bình thường mà xuất hiện ánh sáng trắng, đốm xám đục hoặc chấm trắng sữa ở trung tâm đồng tử.
- Bất thường trong cử động nhãn cầu: Trẻ có biểu hiện rung giật nhãn cầu (hai mắt đảo liên tục không tự chủ), lác mắt (mắt lé vào trong hoặc ra ngoài) do mắt bị đục không thể cố định điểm nhìn.
- Kém phản xạ thị giác: Trẻ từ hai đến ba tháng tuổi trở lên không có phản xạ nhìn chăm chú hoặc không dõi mắt theo đồ chơi nhiều màu sắc di chuyển, không mỉm cười đáp lại khi nhìn thấy khuôn mặt của người thân ở cự ly gần.
Tầm quan trọng của can thiệp sớm:
- Những tháng đầu đời sau sinh là khoảng thời gian vàng để não bộ và mắt hoàn thiện các đường dẫn truyền thần kinh thị giác. Bất kỳ sự che khuất trục quang học nào kéo dài cũng dẫn đến nguy cơ nhược thị vĩnh viễn. Trẻ sơ sinh mắc đục thủy tinh thể bẩm sinh cần được bác sĩ chuyên khoa nhãn nhi thăm khám toàn diện và tiến hành phẫu thuật loại bỏ thể thủy tinh đục càng sớm càng tốt, thường trong vòng sáu đến tám tuần đầu sau sinh, kết hợp chỉnh quang và các bài tập phục hồi chức năng thị giác tích cực sau phẫu thuật.
Mối liên hệ giữa đục thủy tinh thể và các bệnh lý mắt phối hợp
Trong thực hành lâm sàng nhãn khoa, đục thủy tinh thể thường có mối quan hệ tương tác phức tạp hoặc cùng đồng thời xuất hiện với nhiều bệnh lý tại mắt, đòi hỏi quy trình thăm khám cẩn trọng để tránh bỏ sót tổn thương:
Tương tác với nhóm bệnh lý tăng nhãn áp (cườm nước):
- Tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể có thể là mối quan hệ nhân quả hai chiều. Thể thủy tinh đục phồng to có thể gây nghẽn góc tiền phòng dẫn đến cơn tăng nhãn áp cấp. Ngược lại, những bệnh nhân mắc bệnh glôcôm mạn tính kéo dài hoặc từng trải qua các phẫu thuật can thiệp hạ nhãn áp thường có xu hướng bị đẩy nhanh tốc độ đục thể thủy tinh do sự biến đổi môi trường sinh hóa của thủy dịch nội nhãn.
Bệnh lý viêm nhiễm màng bồ đào:
- Tình trạng viêm mống mắt – thể mi tái diễn nhiều đợt làm lắng đọng các tế bào viêm và sắc tố lên bề mặt trước bao thể thủy tinh, gây dính mống mắt vào thấu kính và làm hình thành các đám đục dưới bao sau thứ phát. Việc kiểm soát triệt để ổ viêm nhiễm trước khi tiến hành phẫu thuật thể thủy tinh là nguyên tắc bắt buộc để đảm bảo an toàn.
Tổn thương phối hợp tại đáy mắt và hoàng điểm:
- Ở người cao tuổi, đục thủy tinh thể thường cùng xuất hiện với các bệnh lý võng mạc thoái hóa như thoái hóa hoàng điểm tuổi già, phù hoàng điểm hoặc phù gai thị. Tình trạng mờ đục của thể thủy tinh có thể che khuất tổn thương đáy mắt khi soi kính, hoặc ngược lại, người bệnh sau khi mổ thay thấu kính nhân tạo trong suốt nhưng thị lực vẫn không cải thiện nhiều do hoàng điểm đã bị thoái hóa từ trước. Việc bác sĩ nhãn khoa khảo sát kỹ lưỡng cấu trúc đáy mắt trước phẫu thuật giúp đưa ra tiên lượng thị lực thực tế và chính xác cho người bệnh.
Thực trạng dịch tễ học và gánh nặng mù lòa do đục thủy tinh thể
Đục thủy tinh thể là một trong những vấn đề y tế công cộng lớn nhất trên toàn cầu và tại Việt Nam:
Dịch tễ học toàn cầu và trong nước:
- Theo các số liệu thống kê nhãn khoa quốc tế, tại Hoa Kỳ, tỷ lệ đục thể thủy tinh chiếm khoảng năm mươi phần trăm ở nhóm người từ sáu mươi lăm đến bảy mươi tư tuổi và tăng vọt lên mức bảy mươi phần trăm ở những người trên bảy mươi tuổi.
- Tại Việt Nam, theo các cuộc điều tra diện rộng của ngành Mắt, tỷ lệ người từ năm mươi tuổi trở lên mắc đục thể thủy tinh lên tới 71,3 phần trăm. Đục thủy tinh thể chiếm đến khoảng bảy mươi đến bảy mươi tư phần trăm trong tổng số các nguyên nhân gây mù lòa có thể điều trị được ở người cao tuổi trên cả nước.
Gánh nặng xã hội và giải pháp can thiệp:
- Mù lòa do đục thủy tinh thể không chỉ làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống, tước đi khả năng tự chăm sóc bản thân của người cao tuổi mà còn tạo ra gánh nặng kinh tế và tâm lý lớn cho gia đình và hệ thống an sinh xã hội.
- Tuy nhiên, đục thủy tinh thể là nguyên nhân mù lòa hoàn toàn có thể đảo ngược được bằng can thiệp phẫu thuật Phaco thay thấu kính nhân tạo với thời gian thực hiện nhanh chóng, an toàn và tỷ lệ thành công rất cao. Việc mở rộng mạng lưới sàng lọc mắt tuyến cơ sở, nâng cao nhận thức cộng đồng và hỗ trợ tiếp cận phẫu thuật kịp thời cho người cao tuổi là giải pháp then chốt để đẩy lùi gánh nặng mù lòa trong cộng đồng.
Hướng xử trí và theo dõi y khoa
Mục tiêu điều trị và xử trí bệnh đục thủy tinh thể bao gồm việc phục hồi tối đa chức năng thị giác, nâng cao chất lượng cuộc sống, ngăn ngừa các biến chứng tăng nhãn áp hoặc viêm nội nhãn nguy hiểm, và cá nhân hóa kế hoạch can thiệp ngoại khoa dựa trên tình trạng giải phẫu nhãn cầu cũng như nhu cầu sinh hoạt của từng người bệnh.
Xử trí bảo tồn và theo dõi trong giai đoạn sớm:
Trong giai đoạn đầu khi mức độ mờ đục thể thủy tinh còn nhẹ và chưa ảnh hưởng đáng kể đến khả năng lao động hay sinh hoạt thường ngày, phẫu thuật chưa phải là chỉ định bắt buộc. Mục tiêu chính trong giai đoạn này là theo dõi sát tiến trình của bệnh và tối ưu hóa thị lực chức năng bằng các giải pháp hỗ trợ không xâm lấn:
- Bác sĩ chuyên khoa hướng dẫn người bệnh điều chỉnh độ kính khúc xạ định kỳ nhằm tối ưu hóa khả năng nhìn xa và nhìn gần.
- Khuyến khích sử dụng các thiết bị trợ thị như kính lúp cầm tay, đèn đọc sách có độ sáng thích hợp chiếu trực tiếp vào tài liệu để cải thiện độ tương phản hình ảnh.
- Bố trí không gian sống với nguồn ánh sáng đồng đều, hạn chế các góc tối và đeo kính râm có tính năng chống chói lóa khi đi ra ngoài trời nắng.
- Người bệnh cần tuân thủ lịch tái khám định kỳ mỗi sáu tháng đến một năm để bác sĩ theo dõi tốc độ đục, kiểm tra nhãn áp và đánh giá tình trạng đáy mắt.
- Cần khẳng định rõ ràng rằng, cho đến thời điểm hiện tại, y học hiện đại chưa có bất kỳ loại thuốc uống hay thuốc nhỏ mắt nào có khả năng làm tan khối đục hoặc khôi phục tính trong suốt ban đầu của thể thủy tinh đã biến tính protein.
Can thiệp phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo:
- Khi mức độ đục thể thủy tinh tiến triển nặng làm suy giảm thị lực rõ rệt, cản trở các hoạt động cơ bản như lái xe, đọc sách, làm việc, hoặc khi kích thước thấu kính đe dọa gây biến chứng tăng nhãn áp nghẽn góc, can thiệp ngoại khoa là phương pháp điều trị duy nhất mang lại hiệu quả triệt để và bền vững.
- Phương pháp phẫu thuật phổ biến và hiện đại nhất hiện nay là kỹ thuật tán nhuyễn thể thủy tinh bằng sóng siêu âm (phẫu thuật Phaco). Phẫu thuật viên nhãn khoa tạo một vết rạch vi phẫu rất nhỏ ở rìa giác mạc, đưa đầu siêu âm vào tán nhỏ nhân thể thủy tinh bị đục thành các hạt mịn rồi hút toàn bộ ra ngoài, đồng thời bảo tồn nguyên vẹn bao sau thấu kính.
- Sau khi làm sạch bao, bác sĩ sẽ cấy ghép một thể thủy tinh nhân tạo (thấu kính nội nhãn IOL) vào đúng vị trí giải phẫu tự nhiên trong bao thấu kính. Thấu kính nhân tạo được chế tạo từ các vật liệu polymer tương thích sinh học cao, tồn tại vĩnh viễn trong nhãn cầu mà không gây phản ứng thải ghép.
Tùy thuộc vào cấu trúc mắt, tình trạng khúc xạ và nhu cầu thị giác của người bệnh, bác sĩ sẽ tư vấn lựa chọn loại thấu kính nhân tạo phù hợp:
- Thấu kính đơn tiêu cự: Giúp người bệnh nhìn rất rõ ở một cự ly cố định (thường là cự ly nhìn xa), khi đọc sách hoặc làm việc cự ly gần người bệnh cần đeo thêm kính lão hỗ trợ.
- Thấu kính đa tiêu cự hoặc tiêu cự kéo dài: Cung cấp thị lực tốt ở nhiều cự ly từ xa, trung gian đến gần, giúp người bệnh giảm tối đa sự phụ thuộc vào kính gọng sau phẫu thuật.
- Thấu kính Toric điều chỉnh loạn thị: Được thiết kế riêng cho những bệnh nhân có tật loạn thị giác mạc đi kèm để đạt được thị lực sắc nét tối ưu.
Quy trình theo dõi và chăm sóc phục hồi sau phẫu thuật:
Quá trình chăm sóc hậu phẫu đóng vai trò quyết định đến sự thành công của ca mổ và tốc độ phục hồi thị lực:
- Người bệnh cần sử dụng đầy đủ các loại thuốc nhỏ mắt kháng sinh và kháng viêm không steroid hoặc steroid theo đúng liều lượng và thời gian do bác sĩ điều trị chỉ định nhằm ngăn ngừa nhiễm trùng nội nhãn và giảm phù nề sau mổ.
- Đeo kính bảo vệ mắt liên tục trong những ngày đầu, kể cả trong lúc ngủ, để tránh nguy cơ vô tình dụi tay hoặc va đập vào mắt mổ.
- Giữ gìn vệ sinh sạch sẽ vùng mặt, tuyệt đối không để nước sinh hoạt chưa vô khuẩn, xà phòng hoặc bụi bẩn bắn trực tiếp vào mắt trong hai tuần đầu sau phẫu thuật.
- Tránh các hoạt động gắng sức, không cúi gập người sâu, không bê vác vật nặng, không bơi lội hay tham gia các môn thể thao vận động mạnh trong tháng đầu sau mổ.
- Tuân thủ nghiêm ngặt lịch hẹn tái khám của bác sĩ vào các mốc thời gian một ngày, một tuần, một tháng và ba tháng sau mổ để kiểm tra vết rạch giác mạc, độ ổn định vị trí của thấu kính nhân tạo và đo nhãn áp.
Xử trí biến chứng đục bao sau muộn:
- Sau phẫu thuật một thời gian từ vài tháng đến vài năm, một tỷ lệ bệnh nhân có thể xuất hiện tình trạng nhìn mờ trở lại do các tế bào biểu mô còn sót lại tăng sinh và làm xơ hóa bao sau nâng đỡ thấu kính nhân tạo (hiện tượng đục bao sau). Đây là phản ứng lành tính của mô mắt chứ không phải do thấu kính nhân tạo bị đục. Tình trạng này được bác sĩ chuyên khoa xử lý triệt để, nhẹ nhàng và an toàn bằng thủ thuật laser Nd-YAG mở một lỗ nhỏ ở trục quang học của bao sau tại phòng khám ngoại trú mà không cần phải phẫu thuật lại.
Bảng phân loại các giai đoạn tiến triển lâm sàng và định hướng xử trí đục thủy tinh thể
| Giai đoạn tiến triển | Đặc điểm tổn thương thể thủy tinh và thị lực | Định hướng theo dõi và can thiệp y khoa |
|---|---|---|
| Giai đoạn bắt đầu (đục sớm) | Thể thủy tinh xuất hiện các vùng đục nhỏ ở ngoại vi hoặc rải rác, thị lực nhìn xa hơi mờ nhẹ, có thể kèm chói lóa mắt khi ra nắng, thị lực nhìn gần duy trì tốt | Theo dõi định kỳ 6 đến 12 tháng, điều chỉnh kính khúc xạ hỗ trợ, sử dụng đèn đủ độ sáng khi làm việc, đeo kính râm chống tia cực tím khi ra ngoài trời |
| Giai đoạn tiến triển (đục chưa chín) | Vùng đục lan rộng vào trung tâm quang học, thị lực giảm rõ rệt ở cả cự ly xa và gần, nhận thức màu sắc nhạt dần, nhìn một vật thành hai hình, đổi kính không cải thiện | Bác sĩ chuyên khoa mắt thăm khám toàn diện, đánh giá đáy mắt và chỉ định phẫu thuật Phaco thay thể thủy tinh nhân tạo khi thị lực cản trở sinh hoạt |
| Giai đoạn đục chín | Toàn bộ thể thủy tinh bị đục đặc hoàn toàn, đồng tử chuyển màu trắng đục hoặc xám, thị lực chỉ còn nhận biết bóng bàn tay hoặc sáng tối, nguy cơ biến chứng cao | Chỉ định phẫu thuật thay thể thủy tinh nhân tạo khẩn trương nhằm phục hồi thị lực và ngăn ngừa nguy cơ tăng nhãn áp hoặc viêm màng bồ đào thứ phát |
| Giai đoạn quá chín (đục thoái hóa) | Các sợi thấu kính bị thoái hóa lỏng hóa, bao thấu kính nhăn nheo hoặc rách vi thể làm rò rỉ protein ra ngoài tiền phòng, nhân thấu kính có thể chìm xuống dưới (đục Morgagni) | Phẫu thuật cấp cứu xử trí lấy thể thủy tinh, kiểm soát phản ứng viêm màng bồ đào và điều trị hạ nhãn áp tích cực để bảo tồn thần kinh thị giác |
Phòng ngừa và giảm nguy cơ
Mặc dù quá trình lão hóa sinh học tự nhiên của thể thủy tinh là một quy luật tất yếu không thể đảo ngược hoàn toàn, việc chủ động áp dụng các biện pháp phòng ngừa khoa học nhắm trúng các yếu tố nguy cơ có thể làm chậm đáng kể thời điểm khởi phát và tốc độ tiến triển của bệnh:
Bảo vệ mắt trước tác hại của các loại bức xạ:
- Hình thành thói quen đeo kính râm có khả năng ngăn chặn từ chín mươi chín đến một trăm phần trăm tia cực tím (UVA và UVB) và đội mũ rộng vành mỗi khi ra ngoài trời nắng gắt, đặc biệt trong các khung giờ bức xạ mặt trời đạt đỉnh từ mười giờ sáng đến mười sáu giờ chiều.
- Đối với những người làm việc trong môi trường công nghiệp có bức xạ ion hóa, bức xạ hồng ngoại cường độ cao như thợ thổi thủy tinh thủ công, công nhân luyện kim, đúc kim loại hay kỹ thuật viên phòng chụp tia bức xạ, việc trang bị và đeo kính bảo hộ mắt đạt tiêu chuẩn an toàn lao động là điều kiện bắt buộc để ngăn ngừa đục thể thủy tinh nghề nghiệp.
Phòng ngừa chấn thương mắt và tổn thương hóa chất:
- Luôn đeo kính bảo hộ chuyên dụng khi tham gia các công việc cơ khí, cắt gọt kim loại, xây dựng, mộc, sửa chữa đồ dùng hoặc khi lao động trong môi trường có nguy cơ phát tán bụi sắc nhọn và mảnh vỡ bay vào mắt.
- Sử dụng đầy đủ dụng cụ bảo vệ mặt và mắt khi tiếp xúc hoặc pha chế các loại hóa chất tẩy rửa công nghiệp, đặc biệt là các dung dịch có tính kiềm mạnh hoặc axit mạnh để phòng ngừa tai nạn bỏng mắt nguy hiểm.
Kiểm soát chặt chẽ các bệnh lý chuyển hóa toàn thân:
- Những người mắc bệnh đái tháo đường cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa nội tiết, duy trì chế độ dinh dưỡng hợp lý, vận động thể lực đều đặn và thường xuyên kiểm tra chỉ số đường huyết cũng như chỉ số HbA1c để giữ đường huyết ở mức ổn định. Việc kiểm soát tốt đường máu giúp hạn chế tối đa sự tích lũy sorbitol và giảm phản ứng glycosyl hóa protein bên trong thể thủy tinh.
- Thực hiện khám mắt định kỳ ít nhất mỗi sáu tháng đến một năm một lần đối với bệnh nhân đái tháo đường để phát hiện sớm cả đục thể thủy tinh lẫn bệnh lý võng mạc đái tháo đường.
Xây dựng chế độ dinh dưỡng và lối sống lành mạnh:
- Tăng cường bổ sung vào khẩu phần ăn hàng ngày các thực phẩm giàu chất chống oxy hóa tự nhiên, vitamin C, vitamin E, kẽm và các carotenoid thiết yếu như lutein và zeaxanthin có nhiều trong rau lá xanh đậm (cải bó xôi, súp lơ xanh), củ quả màu vàng cam (cà rốt, bí đỏ, cà chua) và trái cây tươi để giúp trung hòa các gốc tự do gây hại cấu trúc tế bào mắt.
- Tuyệt đối không hút thuốc lá và hạn chế tối đa việc sử dụng rượu bia, đồ uống có cồn, bởi khói thuốc lá và cồn là những nguồn sinh ra lượng lớn gốc tự do làm tổn hại trực tiếp đến tính toàn vẹn của protein thể thủy tinh.
- Bố trí thời gian làm việc và nghỉ ngơi hợp lý cho mắt, áp dụng nguyên tắc cho mắt thư giãn sau mỗi khoảng thời gian tập trung nhìn màn hình điện tử.
Thận trọng tuyệt đối trong việc sử dụng thuốc:
- Người dân tuyệt đối không tự ý mua và sử dụng các loại thuốc nhỏ mắt, thuốc mỡ bôi mắt hoặc thuốc uống có chứa thành phần corticosteroid khi chưa có đơn thuốc và sự theo dõi nghiêm ngặt của bác sĩ chuyên khoa mắt. Việc lạm dụng corticosteroid là nguyên nhân hàng đầu gây đục thể thủy tinh dưới bao sau thứ phát và tăng nhãn áp kháng trị ở người trẻ tuổi.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Người bệnh cần chủ động đến thăm khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa mắt ngay khi nhận thấy các dấu hiệu suy giảm chức năng thị giác ban đầu sau đây:
- Tầm nhìn bị mờ sương, nhòe hình hoặc giảm độ sắc nét tăng dần theo thời gian ở một hoặc cả hai mắt.
- Mắt trở nên nhạy cảm bất thường với ánh sáng mạnh, thường xuyên bị chói lóa khi đi ngoài trời nắng hoặc khi lái xe ban đêm gặp ánh đèn pha ngược chiều.
- Hiện tượng nhìn đôi, nhìn thấy nhiều hình ảnh bóng mờ ở một bên mắt.
- Cảm nhận màu sắc xung quanh bị nhạt nhòa, ngả sang màu vàng ố hoặc xám xịt.
- Độ kính khúc xạ thay đổi liên tục trong thời gian ngắn, việc thay đổi số kính không giúp thị lực nhìn rõ hơn như trước.
Đặc biệt, người bệnh cần đến ngay phòng cấp cứu nhãn khoa hoặc bệnh viện chuyên khoa mắt gần nhất nếu xuất hiện một trong các triệu chứng báo động nguy hiểm sau:
- Mắt xuất hiện cơn đau nhức dữ dội đột ngột, cơn đau có xu hướng lan nhanh lên trán, hốc mắt, vùng thái dương hoặc nửa đầu cùng bên.
- Mắt đỏ ửng nhiều kèm theo hiện tượng cương tụ kết mạc sâu quanh rìa giác mạc.
- Nhìn thấy quầng sáng tròn nhiều màu sắc rực rỡ như cầu vồng bao quanh các nguồn phát sáng.
- Thị lực sụt giảm nghiêm trọng một cách đột ngột hoặc mất hoàn toàn khả năng nhìn thấy chỉ trong vòng vài giờ.
- Cơn đau mắt dữ dội xuất hiện kèm theo cảm giác buồn nôn, nôn mửa hoặc vã mồ hôi toàn thân.
- Đây là những dấu hiệu cảnh báo khẩn cấp của cơn glôcôm góc đóng cấp tính do thể thủy tinh phồng to chèn ép góc tiền phòng hoặc biến chứng viêm màng bồ đào rầm rộ do rò rỉ chất protein thể thủy tinh thoái hóa, đòi hỏi phải được các bác sĩ nhãn khoa can thiệp cấp cứu hạ nhãn áp và phẫu thuật khẩn cấp nhằm bảo toàn tính mạng thần kinh thị giác.
Lưu ý an toàn
Người bệnh tuyệt đối không tự ý mua và sử dụng các loại thuốc nhỏ mắt không rõ nguồn gốc xuất xứ, các loại thuốc gia truyền hoặc áp dụng các bài thuốc dân gian truyền miệng như đắp lá cây, nhỏ nước thảo mộc hay mật ong vào mắt với hy vọng làm tan khối đục thủy tinh thể. Cho đến nay, nền y học hiện đại trên toàn thế giới khẳng định chưa có bất kỳ loại thuốc uống hay thuốc nhỏ mắt nào có khả năng làm trong suốt trở lại thể thủy tinh đã bị biến tính cấu trúc protein. Việc tự ý đưa các dung dịch không đảm bảo vô trùng vào mắt tiềm ẩn nguy cơ cực kỳ nguy hiểm gây viêm loét giác mạc, nhiễm trùng nội nhãn, thủng nhãn cầu và có thể dẫn đến mất thị lực vĩnh viễn không thể cứu vãn.
Bên cạnh đó, người dân cần đặc biệt cảnh giác và tuyệt đối không tự ý mua các loại thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc bôi chứa hoạt chất corticosteroid (như dexamethasone, hydrocortisone hay prednisolone) để sử dụng kéo dài khi bị cộm ngứa mắt mà không có đơn thuốc của bác sĩ chuyên khoa nhãn khoa. Việc lạm dụng nhóm thuốc này là căn nguyên trực tiếp gây đục thể thủy tinh dưới bao sau tiến triển nhanh và làm tăng nhãn áp mạn tính khó kiểm soát.
Khi nhận thấy thị lực có biểu hiện suy giảm, người bệnh không nên chỉ đơn thuần đi đo kính tại các quầy kính mắt thương mại mà cần đến các cơ sở y tế có bác sĩ chuyên khoa mắt để được thăm khám toàn diện bằng đèn khe và soi đáy mắt, giúp chẩn đoán phân biệt chính xác đục thể thủy tinh với các tổn thương nguy hiểm khác ở võng mạc và thần kinh thị giác.
Kết luận
Đục thủy tinh thể là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây suy giảm thị lực và mù lòa trên toàn cầu cũng như tại Việt Nam, nhưng hoàn toàn có thể phục hồi chức năng thị giác nếu được phát hiện đúng thời điểm và can thiệp ngoại khoa kịp thời. Bệnh tiến triển âm thầm theo năm tháng và chịu tác động bởi sự kết hợp của nhiều yếu tố như quá trình lão hóa sinh học tự nhiên, chấn thương, bức xạ môi trường, các bệnh lý chuyển hóa toàn thân và tác dụng phụ của thuốc.
Việc duy trì thói quen thăm khám chuyên khoa mắt định kỳ, chủ động bảo vệ mắt trước tia bức xạ mặt trời, kiểm soát tốt các bệnh nền mạn tính và tuân thủ lối sống khoa học là chìa khóa quan trọng để làm chậm tiến trình thoái hóa của thể thủy tinh. Khi có chỉ định phẫu thuật thay thấu kính nhân tạo, người bệnh cần trao đổi trực tiếp với bác sĩ chuyên khoa nhãn khoa để lựa chọn giải pháp phẫu thuật và loại kính nội nhãn phù hợp nhất với tình trạng mắt và nhu cầu công việc của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống lâu dài.
Nguồn tham khảo
- Bệnh học nội khoa, Trường đại học Y Hà Nội.
- Bài giảng nhãn khoa, Trường đại học Y Hà Nội.
- Quyết định số 7328/QĐ-BYT ngày 10/12/2018 của Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn chuẩn chất lượng về chẩn đoán và điều trị đục thể thủy tinh.
FAQ – Câu hỏi thường gặp
Bệnh đục thủy tinh thể có phải chỉ xảy ra ở người cao tuổi hay không?
Mặc dù quá trình lão hóa sinh học tự nhiên là nguyên nhân phổ biến nhất gây đục thể thủy tinh ở người trên năm mươi tuổi, căn bệnh này hoàn toàn có thể khởi phát ở mọi lứa tuổi. Trẻ sơ sinh có thể mắc đục thủy tinh thể bẩm sinh do đột biến gen di truyền hoặc nhiễm trùng phôi thai trong thai kỳ. Người trẻ tuổi cũng có nguy cơ mắc bệnh thứ phát sau chấn thương đụng dập hoặc đâm xuyên ở mắt, do tiếp xúc với bức xạ ion hóa, bức xạ nhiệt, mắc bệnh đái tháo đường kiểm soát kém hoặc do sử dụng thuốc corticosteroid kéo dài.
Bệnh đục thủy tinh thể có gây đau nhức hoặc ngứa mắt không?
Trong giai đoạn tiến triển tự nhiên chưa có biến chứng, đục thủy tinh thể có đặc tính lâm sàng điển hình là gây suy giảm thị lực từ từ mà hoàn toàn không gây đau nhức, không gây ngứa ngáy hay đỏ mắt. Người bệnh chủ yếu cảm thấy nhìn mờ, lóa mắt hoặc nhìn một vật thành hai hình. Tuy nhiên, nếu mắt đột ngột xuất hiện đau nhức dữ dội lan lên nửa đầu kèm theo mắt đỏ và buồn nôn, đó là dấu hiệu của biến chứng tăng nhãn áp cấp hoặc viêm màng bồ đào, đòi hỏi phải được cấp cứu y tế khẩn trương.
Có loại thuốc nhỏ mắt hay thuốc uống nào giúp làm tan khối đục thủy tinh thể không?
Cho đến thời điểm hiện tại, y học thế giới khẳng định chưa có bất kỳ loại thuốc uống hay thuốc nhỏ mắt nào có khả năng làm tan khối đục hoặc khôi phục lại độ trong suốt tự nhiên của thể thủy tinh đã bị biến tính cấu trúc protein. Các loại thuốc nhỏ mắt hỗ trợ dinh dưỡng chỉ có thể đóng vai trò làm chậm phần nào tốc độ thoái hóa ở giai đoạn rất sớm. Phẫu thuật tán nhuyễn siêu âm Phaco thay thể thủy tinh nhân tạo là phương pháp điều trị duy nhất mang lại hiệu quả phục hồi thị lực rõ rệt.
Bệnh đục thủy tinh thể nếu không phẫu thuật có dẫn đến mù lòa vĩnh viễn không?
Nếu không được bác sĩ chuyên khoa mắt theo dõi và can thiệp phẫu thuật kịp thời, tình trạng mờ đục sẽ tiến triển ngày càng dày đặc, ngăn cản hoàn toàn đường truyền của ánh sáng tới võng mạc và dẫn đến mất thị lực nghiêm trọng. Nguy hiểm hơn, thể thủy tinh khi chuyển sang giai đoạn quá chín có thể gây ra các biến chứng cấp tính như glôcôm góc đóng làm teo dây thần kinh thị giác không hồi phục hoặc viêm màng bồ đào mạn tính, khiến mắt bị mù lòa thực thể vĩnh viễn.
