Suy gan: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị
Nội dung chỉ cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế chẩn đoán, khám hoặc điều trị của người hành nghề y tế. Không tự ý dùng, ngừng hoặc thay đổi thuốc dựa trên bài viết.
Gan là cơ quan nội tạng thiết yếu, đảm nhận hàng loạt chức năng chuyển hóa, tổng hợp protein đông máu, bài tiết dịch mật và thanh lọc độc tố khỏi tuần hoàn máu. Tình trạng suy gan xảy ra khi phần lớn nhu mô gan bị tổn thương nghiêm trọng, khiến cơ quan này không còn duy trì được các hoạt động sinh lý bình thường.

Suy gan được phân thành hai dạng lâm sàng chính gồm suy gan cấp tính và suy gan mạn tính. Thể cấp tính diễn tiến dữ dội chỉ trong vài ngày hoặc vài tuần ở người chưa từng có bệnh gan trước đó, thường do độc chất hoặc ngộ độc thuốc. Trong khi đó, thể mạn tính lại âm thầm phát triển suốt nhiều năm, bắt nguồn từ tình trạng viêm mạn tính và xơ gan kéo dài.
Cả hai dạng suy gan đều là các tình trạng cấp cứu y khoa đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh. Việc nhận diện chính xác các dấu hiệu ban đầu, tiếp cận điều trị chuyên khoa kịp thời và quản lý nguyên nhân gốc rễ là yếu tố then chốt giúp kiểm soát bệnh cũng như giảm thiểu nguy cơ tử vong.
Tổng quan về suy gan
Gan là trung tâm chuyển hóa lớn nhất trong cơ thể, giữ vị trí then chốt trong việc duy trì trạng thái hằng định nội môi. Cơ quan này liên tục thực hiện nhiều nhiệm vụ sinh tồn bao gồm tổng hợp các yếu tố đông máu giúp cầm máu, sản xuất albumin duy trì áp lực keo huyết tương, tổng hợp các protein miễn dịch và vận chuyển vi chất. Bên cạnh đó, gan bài tiết dịch mật chứa muối mật để nhũ tương hóa chất béo trong ống tiêu hóa, dự trữ glucose dưới dạng glycogen để điều hòa đường huyết, đồng thời chuyển hóa lipid và tổng hợp cholesterol cấu trúc tế bào. Đặc biệt, gan đóng vai trò như một bộ lọc sinh học, khử hoạt tính và đào thải các độc tố nội sinh như amoniac cũng như các chất ngoại sinh từ thuốc và thực phẩm.
Suy gan xuất hiện khi phần lớn tế bào gan bị tổn thương cấu trúc hoặc hoại tử trên diện rộng, vượt quá khả năng bù trừ và tự tái tạo kỳ diệu của gan. Khi ngưỡng chịu đựng bị phá vỡ, gan mất đi năng lực thực hiện các chu trình sinh học kể trên, dẫn tới sự tích tụ hàng loạt chất độc trong máu và rối loạn toàn bộ hệ thống tuần hoàn, thần kinh, đông máu.
Trên phương diện tiến trình bệnh học, suy gan được chia thành hai thể lâm sàng cơ bản:
- Suy gan cấp tính biểu hiện bằng sự hủy hoại tế bào gan ồ ạt diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn, thường từ vài ngày đến dưới hai mươi sáu tuần ở một người trước đó có lá gan hoàn toàn khỏe mạnh. Thể bệnh này đặc trưng bởi tình trạng rối loạn đông máu trầm trọng kết hợp với biến đổi tri giác do hội chứng não gan.
- Suy gan mạn tính là chặng cuối của một quá trình bệnh lý kéo dài nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ. Tình trạng viêm gan mạn tính khiến các mô gan liên tục bị tổn thương và xơ hóa, hình thành nên các dải sẹo xơ không hồi phục, tức bệnh xơ gan. Khi các mô sẹo xơ dần thay thế hoàn toàn các tiểu thùy gan lành mạnh, chức năng gan bước vào giai đoạn mất bù.
So sánh đặc điểm suy gan cấp tính và suy gan mạn tính
| Đặc điểm phân biệt | Suy gan cấp tính | Suy gan mạn tính |
|---|---|---|
| Thời gian khởi phát | Diễn tiến nhanh chóng trong vài ngày hoặc vài tuần | Âm ỉ, tiến triển kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm |
| Tiền sử bệnh gan | Thường xảy ra ở người trước đó có gan hoàn toàn khỏe mạnh | Thường xuất hiện trên nền bệnh gan mạn tính hoặc xơ gan |
| Nguyên nhân chủ yếu | Quá liều paracetamol, độc chất, virus viêm gan cấp | Viêm gan virus mạn tính (B, C), rượu bia, gan nhiễm mỡ |
| Đặc điểm mô học | Hoại tử tế bào gan ồ ạt diện rộng | Xơ hóa lan tỏa, mô sẹo thay thế mô gan lành |
| Nguy cơ biến chứng | Phù não, suy đa cơ quan xuất hiện rất nhanh | Tăng áp cửa, xuất huyết tiêu hóa, cổ trướng, suy thận |
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Căn nguyên gây suy gan rất đa dạng, được phân chia theo hai bệnh cảnh lâm sàng cấp tính và mạn tính với các cơ chế bệnh sinh đặc thù:
Đối với suy gan cấp tính, nguyên nhân hàng đầu thường xuất phát từ việc ngộ độc hóa chất và độc tính của thuốc. Trong đó, sử dụng quá liều acetaminophen hay paracetamol là nguyên nhân gây độc tế bào gan trực tiếp phổ biến nhất. Khi lượng thuốc dung nạp vượt quá ngưỡng an toàn, các chất chuyển hóa trung gian độc hại không được khử độc kịp thời, gây hoại tử tế bào gan ồ ạt. Bên cạnh đó, các phản ứng độc tính từ một số loại thuốc kê đơn hoặc các chế phẩm thảo dược không rõ nguồn gốc cũng có thể kích hoạt tổn thương hoại tử gan cấp. Nhiễm virus viêm gan cấp tính, đặc biệt là virus viêm gan B, viêm gan A, viêm gan E hoặc đồng nhiễm viêm gan D, cũng là căn nguyên quan trọng. Một số yếu tố khác bao gồm ngộ độc nấm độc, hóa chất công nghiệp, thuốc trừ sâu, sốc tuần hoàn gây thiếu máu cục bộ gan, hội chứng Budd-Chiari tắc nghẽn tĩnh mạch gan, hoặc viêm gan tự miễn bùng phát.
Đối với suy gan mạn tính, tình trạng suy sụp chức năng là kết quả cuối cùng của quá trình tổn thương gan âm ỉ kéo dài nhiều năm dẫn đến xơ gan mất bù. Các nguyên nhân và yếu tố nguy cơ chủ yếu bao gồm:
- Nhiễm virus viêm gan B và virus viêm gan C mạn tính là nguyên nhân phổ biến gây xơ hóa mô gan tiến triển. Sự nhân lên dai dẳng của virus kích hoạt hệ thống miễn dịch tiêu hủy tế bào gan qua từng năm tháng.
- Lạm dụng rượu bia kéo dài tạo ra các chất chuyển hóa độc hại gây viêm hoại tử và kích thích tạo xơ.
- Bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu liên quan chặt chẽ với béo phì, đái tháo đường tuýp hai và hội chứng chuyển hóa, dẫn tới viêm gan nhiễm mỡ rồi chuyển biến thành xơ gan.
- Các bệnh lý tự miễn và đường mật như viêm gan tự miễn hoặc viêm xơ đường mật, cùng các rối loạn chuyển hóa di truyền như bệnh Wilson gây ứ đồng hay bệnh ứ sắt mô. Ngoài ra, tình trạng suy tim phải kéo dài gây ứ trệ tuần hoàn tại gan cũng góp phần làm suy giảm chức năng gan không hồi phục.
Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp
Biểu hiện lâm sàng của suy gan phụ thuộc vào tốc độ tiến triển của bệnh cũng như mức độ thương tổn nhu mô gan.
Ở giai đoạn sớm của suy gan mạn tính, các biểu hiện thường rất mơ hồ, không điển hình và dễ bị người bệnh nhầm lẫn với sự mệt mỏi thông thường hay các rối loạn tiêu hóa nhẹ. Người bệnh có thể xuất hiện cảm giác mệt mỏi kéo dài không rõ lý do, uể oải, chán ăn, ăn không ngon miệng, đầy trướng bụng, buồn nôn, nôn nao, hoặc rối loạn thói quen đi tiêu như phân lỏng từng đợt. Do gan giảm khả năng chuyển hóa và bài tiết, người bệnh có thể sụt cân không chủ ý và suy nhược cơ thể dần dần.
Khi tình trạng tổn thương mô gan tiến triển nặng hơn và chức năng gan bắt đầu suy sụp rõ rệt, các triệu chứng đặc hiệu xuất hiện phản ánh sự suy thoái của toàn bộ hệ cơ quan:
- Vàng da và vàng niêm mạc: Nồng độ sắc tố mật bilirubin tích tụ trong máu khiến củng mạc mắt và da chuyển sang màu vàng đậm, nước tiểu sẫm màu như nước trà đặc, trong khi phân có thể nhạt màu.
- Phù nề và cổ trướng: Do gan giảm sản xuất protein albumin làm sụt giảm áp lực keo huyết tương kết hợp với tăng áp lực tĩnh mạch cửa, dịch thoát ra các khoang gian bào gây phù hai chi dưới và tràn dịch màng bụng hay cổ trướng, bụng phình to căng tức.
- Rối loạn đông máu và xuất huyết: Gan không thể tổng hợp đủ các yếu tố đông máu, dẫn đến tình trạng dễ bầm tím dưới da dù chỉ va chạm nhẹ, chảy máu chân răng tự nhiên, chảy máu cam tái diễn, nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen do vỡ giãn tĩnh mạch thực quản.
Đối với suy gan cấp tính, các triệu chứng xuất hiện dữ dội chỉ trong thời gian rất ngắn. Người bệnh có thể đang khỏe mạnh bỗng đột ngột xuất hiện vàng da tiến triển nhanh chóng, đau tức hạ sườn phải, hơi thở có mùi ngọt nồng đặc trưng. Dấu hiệu đặc biệt nguy hiểm là các biến đổi tâm thần kinh do hội chứng não gan: thay đổi tính tình, đảo lộn chu kỳ ngủ, lú lẫn, run vỗ cánh và nhanh chóng hôn mê.
Chẩn đoán
Quy trình chẩn đoán suy gan đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa khai thác tiền sử bệnh lý, thăm khám lâm sàng toàn diện và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên sâu nhằm xác định mức độ suy giảm chức năng tế bào gan, giai đoạn bệnh cũng như truy tìm căn nguyên cốt lõi.
Đầu tiên, bác sĩ sẽ tiến hành thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu kinh điển của suy giảm chức năng gan như: tình trạng vàng da, củng mạc mắt vàng, sự xuất hiện của các nốt sao mạch trên vùng ngực cổ, dấu hiệu lòng bàn tay son, mức độ phù hai chi dưới, tình trạng chướng bụng và tràn dịch ổ bụng. Bác sĩ cũng sẽ đánh giá tri giác kỹ lưỡng thông qua các thang điểm lâm sàng nhằm phát hiện sớm các mức độ của hội chứng não gan.
Các xét nghiệm cận lâm sàng giữ vai trò quyết định:
- Xét nghiệm đông máu: Đo thời gian prothrombin và chỉ số INR là tiêu chuẩn then chốt phản ánh sự suy giảm năng lực tổng hợp protein của gan.
- Xét nghiệm sinh hóa máu: Định lượng men gan AST và ALT để đánh giá mức độ hoại tử tế bào gan, nồng độ bilirubin toàn phần và trực tiếp, nồng độ albumin huyết thanh, chỉ số amoniac máu, cùng các chỉ số chức năng thận như ure và creatinine nhằm tầm soát hội chứng gan thận.
- Xét nghiệm huyết thanh và miễn dịch: Xác định các dấu ấn nhiễm virus viêm gan B, C, A, E và các tự kháng thể trong viêm gan tự miễn.
Chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chuyên sâu:
- Siêu âm Doppler mạch máu gan ổ bụng, chụp cắt lớp vi tính hoặc chụp cộng hưởng từ giúp đánh giá cấu trúc nhu mô gan, kích thước các tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch gan, đồng thời loại trừ biến chứng ung thư gan. Đo độ đàn hồi mô gan giúp lượng giá chính xác mức độ xơ hóa nhu mô. Trong những trường hợp nguyên nhân chưa rõ ràng, bác sĩ có thể cân nhắc sinh thiết gan để làm rõ chẩn đoán.
Các biến chứng nguy hiểm của bệnh suy gan
Khi chức năng tế bào gan bị suy giảm nghiêm trọng, cơ thể sẽ đối mặt với hàng loạt biến chứng đa cơ quan nặng nề. Biến chứng thần kinh điển hình nhất là hội chứng bệnh não gan hay hôn mê gan, hình thành do gan mất khả năng chuyển hóa và đào thải các độc tố trong máu, đặc biệt là amoniac (NH3). Nồng độ amoniac tăng cao vượt qua hàng rào máu não gây phù tế bào não, tăng áp lực nội sọ và dẫn tới rối loạn hành vi, co giật hoặc hôn mê sâu đe dọa trực tiếp tính mạng.
Trên hệ thống tuần hoàn và tiêu hóa, suy gan mạn tính thường kéo theo tình trạng tăng áp lực tĩnh mạch cửa, dẫn tới hình thành các búi giãn tĩnh mạch thực quản và dạ dày. Khi áp lực trong lòng mạch quá cao kết hợp với tình trạng giảm tổng hợp các yếu tố đông máu, các búi giãn này rất dễ vỡ ra, gây xuất huyết tiêu hóa ồ ạt dẫn đến sốc mất máu tử vong nhanh chóng nếu không được can thiệp nội soi cấp cứu.
Bên cạnh đó, suy gan còn ảnh hưởng trực tiếp đến chức năng của các cơ quan trọng yếu khác. Hội chứng gan thận gây suy thận cấp tiến triển do co thắt mạch máu thận nghiêm trọng. Hội chứng gan phổi gây rối loạn trao đổi khí và suy hô hấp. Ngoài ra, việc sụt giảm sản xuất các protein miễn dịch khiến người bệnh suy giảm sức đề kháng nghiêm trọng, rất dễ bị nhiễm trùng huyết và viêm phúc mạc vi khuẩn tự phát.
Hướng xử trí và theo dõi y khoa
Xử trí suy gan là một quá trình y khoa chuyên sâu và phức tạp, đòi hỏi người bệnh phải được theo dõi, điều trị tại các cơ sở y tế có chuyên khoa tiêu hóa gan mật hoặc đơn vị hồi sức tích cực. Mục tiêu cốt lõi của điều trị là duy trì ổn định chức năng các cơ quan sinh tồn, giải quyết hoặc làm chậm tiến trình của nguyên nhân gây tổn thương gan, phòng ngừa và kiểm soát các biến chứng nguy hiểm, đồng thời chuẩn bị phương án ghép gan khi cần thiết.
Đối với suy gan cấp tính:
- Người bệnh cần được nhập viện khẩn cấp tại phòng hồi sức cấp cứu. Bác sĩ sẽ tập trung bảo vệ đường thở, kiểm soát huyết động, duy trì đường huyết và cân bằng điện giải. Nếu xác định nguyên nhân do ngộ độc thuốc cụ thể, nhân viên y tế sẽ chỉ định kịp thời các thuốc giải độc đặc hiệu theo phác đồ cấp cứu. Việc kiểm soát phù não và theo dõi áp lực nội sọ là ưu tiên hàng đầu ở các bệnh nhân có biểu hiện hội chứng não gan tiến triển. Bên cạnh đó, các biện pháp hỗ trợ gan nhân tạo ngoài cơ thể có thể được cân nhắc nhằm loại bỏ độc tố, tạo thời gian chờ gan tự phục hồi hoặc làm cầu nối cho phẫu thuật ghép gan.
Đối với suy gan mạn tính:
- Kế hoạch điều trị tập trung vào việc làm chậm sự tiến triển của xơ gan và kiểm soát các biến chứng mất bù. Bác sĩ chuyên khoa sẽ xây dựng phác đồ cá thể hóa nhằm điều trị nguyên nhân gốc rễ, ví dụ như dùng thuốc ức chế virus ở bệnh nhân viêm gan B hoặc C, ngưng hoàn toàn rượu bia, cải thiện tình trạng kháng insulin. Các nhóm thuốc hỗ trợ nhuận tràng thẩm thấu giúp giảm hấp thu amoniac, thuốc lợi tiểu kiểm soát cổ trướng và thủ thuật nội soi thắt tĩnh mạch thực quản sẽ được áp dụng theo chỉ định.
Ghép gan:
- Ghép gan là giải pháp điều trị triệt để đối với những trường hợp suy gan giai đoạn cuối mất bù hoặc suy gan cấp hoại tử không hồi phục. Quá trình này đòi hỏi sự đánh giá nghiêm ngặt về thể trạng, chức năng đa cơ quan và mức độ tương thích miễn dịch.
Phòng ngừa và giảm nguy cơ
Phòng ngừa suy gan là chiến lược y tế dự phòng mang tính quyết định nhằm bảo vệ cấu trúc tế bào gan và ngăn chặn tiến trình xơ hóa ngay từ sớm.
Chủ động tiêm chủng vắc xin:
- Tiêm đầy đủ các mũi vắc xin phòng ngừa virus viêm gan A và viêm gan B là biện pháp bảo vệ hiệu quả hàng đầu. Đặc biệt đối với những người đã có sẵn bệnh gan mạn tính, việc tiêm chủng phòng hai loại virus này là bắt buộc để ngăn chặn nguy cơ bội nhiễm dẫn tới đợt bùng phát suy gan. Hiện chưa có vắc xin cho viêm gan C, do đó phòng ngừa dựa vào việc tránh tiếp xúc máu và dùng dụng cụ tiệt trùng.
Sử dụng thuốc và hóa chất an toàn:
- Luôn đọc kỹ hướng dẫn và tuân thủ chỉ định y tế khi dùng thuốc hạ sốt giảm đau acetaminophen, không phối hợp nhiều chế phẩm chứa cùng hoạt chất. Tuyệt đối không tự ý dùng các chế phẩm thảo dược trôi nổi không rõ nguồn gốc xuất xứ. Sử dụng đầy đủ đồ bảo hộ khi làm việc với hóa chất công nghiệp, thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ.
Xây dựng lối sống lành mạnh:
- Ngừng hoàn toàn rượu bia nhằm triệt tiêu độc tính của ethanol đối với tế bào gan. Áp dụng chế độ ăn giàu rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, hạn chế mỡ động vật và đồ ngọt nhằm phòng ngừa gan nhiễm mỡ chuyển hóa. Vận động thể chất thường xuyên kết hợp khám sức khỏe định kỳ để theo dõi chức năng gan liên tục.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Người bệnh cần theo dõi sát sao cơ thể và đến các cơ sở y tế chuyên khoa thăm khám sớm khi nhận thấy các dấu hiệu suy giảm chức năng gan ban đầu như: cảm giác mệt mỏi, suy nhược kéo dài không rõ căn nguyên, chán ăn, sụt cân liên tục, đầy bụng khó tiêu, hoặc da và củng mạc mắt bắt đầu có dấu hiệu ngả vàng nhẹ. Đối với những người đã có tiền sử bệnh gan mạn tính, xơ gan hoặc viêm gan virus, việc tái khám định kỳ theo lịch hẹn của bác sĩ là yêu cầu bắt buộc.
Đặc biệt, cần lập tức gọi cấp cứu hoặc đưa người bệnh đến khoa hồi sức cấp cứu khi xuất hiện bất kỳ dấu hiệu nguy kịch nào sau đây:
- Có biểu hiện rối loạn tri giác, thay đổi tính cách đột ngột, lơ mơ, nói nhảm, mất định hướng, run rẩy tay chân hoặc hôn mê.
- Nôn ra máu tươi hoặc máu bầm đen, nôn ra cặn giống bã cà phê, hoặc đi ngoài phân đen có mùi tanh nồng do xuất huyết tiêu hóa.
- Vàng da và vàng mắt tiến triển cực kỳ nhanh kèm theo sốt cao hoặc đau hạ sườn phải.
- Bụng phình to căng cứng đột ngột kèm theo khó thở, hoặc chảy máu khó cầm ở niêm mạc, vết bầm lan rộng.
Lưu ý an toàn
Các thông tin y khoa được cung cấp trong bài viết chỉ mang tính chất giáo dục và tham khảo sức khỏe cộng đồng, tuyệt đối không thay thế cho quy trình chẩn đoán, đánh giá lâm sàng hoặc chỉ định điều trị của bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa gan mật.
Suy gan là một hội chứng bệnh lý diễn tiến phức tạp, phụ thuộc mật thiết vào căn nguyên khởi phát, giai đoạn tổn thương mô học và thể trạng nền của từng người bệnh cụ thể. Do đó, người bệnh và gia đình tuyệt đối không được tự ý chẩn đoán dựa trên các triệu chứng mô tả, không tự ý mua hoặc tự thay đổi liều lượng các loại thuốc điều trị bệnh gan mà chưa có ý kiến của nhân viên y tế. Đặc biệt, cần hết sức thận trọng và tránh xa những lời quảng cáo truyền miệng về các bài thuốc giải độc gan, trà thải độc thảo mộc hay thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc. Các sản phẩm trôi nổi này thường tiềm ẩn nguy cơ chứa độc chất, có thể kích hoạt tổn thương tế bào gan cấp tính hoặc đẩy nhanh tiến trình suy gan mất bù.
Kết luận
Suy gan là một trong những hội chứng bệnh lý nguy hiểm và phức tạp nhất của hệ tiêu hóa gan mật, đe dọa trực tiếp đến sự sống nếu không được can thiệp kịp thời. Dù khởi phát đột ngột dưới dạng cấp tính hay tiến triển âm thầm qua nhiều năm tháng dưới dạng mạn tính, bệnh đều để lại những hệ lụy nặng nề cho toàn bộ cơ thể.
Chìa khóa then chốt để bảo vệ lá gan nằm ở sự chủ động phòng ngừa, bao gồm tiêm vắc xin viêm gan, từ bỏ rượu bia, sử dụng thuốc thận trọng và duy trì nếp sống khoa học. Khi nhận thấy bất kỳ dấu hiệu bất thường nào, việc tìm kiếm sự chăm sóc y tế từ các bác sĩ chuyên khoa là quyết định quan trọng nhất nhằm bảo tồn chức năng gan.
Nguồn tham khảo
- Healthline.com
- Rueda M, Lipsett PA. Hepatic Failure. Principles of Adult Surgical Critical Care. 2016 Oct 9:211–32. doi: 10.1007/978-3-319-33341-0_18.
- Tujios S, Stravitz RT, Lee WM. Management of Acute Liver Failure: Update 2022. Semin Liver Dis. 2022 Aug;42(3):362-378. doi: 10.1055/s-0042-1755274.
- Ngu NLY, Flanagan E, Bell S, Le ST. Acute-on-chronic liver failure: Controversies and consensus. World J Gastroenterol. 2023 Jan 14;29(2):232-240. doi: 10.3748/wjg.v29.i2.232.
FAQ – Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân phổ biến nào gây ra suy gan cấp tính?
Suy gan cấp tính thường xuất phát từ việc hoại tử tế bào gan ồ ạt, trong đó nguyên nhân hàng đầu là tình trạng ngộ độc hoặc dùng quá liều thuốc giảm đau hạ sốt chứa acetaminophen (paracetamol). Bên cạnh đó, nhiễm virus viêm gan cấp tính như viêm gan A, B hoặc E, phản ứng dị ứng thuốc nặng, ngộ độc nấm độc hoặc hóa chất độc hại cũng là những tác nhân gây tổn thương gan cấp tính nguy hiểm cần cấp cứu khẩn cấp.
Sự khác biệt cơ bản giữa suy gan cấp tính và suy gan mạn tính là gì?
Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở tốc độ tiến triển và bệnh nền của lá gan. Suy gan cấp tính khởi phát dữ dội trong vài ngày hoặc vài tuần ở người trước đó có lá gan khỏe mạnh, dẫn tới rối loạn đông máu và tổn thương thần kinh nhanh chóng. Ngược lại, suy gan mạn tính âm thầm tiến triển suốt nhiều tháng hoặc nhiều năm, là kết quả tích lũy từ quá trình xơ gan do viêm gan virus mạn, rượu bia hoặc bệnh chuyển hóa.
Tại sao người bệnh suy gan bắt buộc phải ngừng uống rượu bia hoàn toàn?
Rượu bia khi vào cơ thể được chuyển hóa tại gan thành acetaldehyde, một hợp chất có độc tính tế bào cao gây viêm hoại tử và hình thành mô sẹo xơ. Ở người đã bị suy gan, khả năng chuyển hóa và bảo vệ của gan đã cạn kiệt, việc tiếp tục uống rượu bia sẽ làm tổn thương tế bào gan thêm trầm trọng, phá hủy lượng mô gan khỏe mạnh còn lại và đẩy nhanh nguy cơ tử vong do biến chứng suy gan mất bù.
Tiêm vắc xin viêm gan A và B có ý nghĩa như thế nào đối với người bị suy gan?
Tiêm phòng vắc xin viêm gan A và B là chỉ định y khoa vô cùng quan trọng đối với người bệnh gan mạn tính và suy gan. Do chức năng gan đã suy giảm, nếu bị bội nhiễm thêm các loại virus viêm gan cấp tính này, tình trạng bệnh sẽ diễn tiến thành đợt suy gan tối cấp đe dọa trực tiếp tính mạng. Tiêm phòng giúp tạo lá chắn miễn dịch chủ động, bảo vệ gan khỏi các đợt tổn thương cấp tính nguy hiểm.
Bệnh suy gan có thể chữa khỏi hoàn toàn được không?
Khả năng hồi phục phụ thuộc vào thể bệnh và giai đoạn can thiệp. Một số trường hợp suy gan cấp tính nếu được phát hiện sớm và xử trí nguyên nhân kịp thời (chẳng hạn dùng thuốc giải độc ngộ độc thuốc) thì mô gan có thể tự tái tạo và phục hồi chức năng. Tuy nhiên, đối với suy gan mạn tính giai đoạn muộn do xơ gan, các tổn thương mô sẹo xơ là không thể đảo ngược; mục tiêu điều trị lúc này là bảo tồn chức năng gan còn lại, kiểm soát biến chứng hoặc xem xét ghép gan.
