Liệt dây thần kinh số 7: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách xử trí
Nội dung chỉ cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế chẩn đoán, khám hoặc điều trị của người hành nghề y tế. Không tự ý dùng, ngừng hoặc thay đổi thuốc dựa trên bài viết.
Liệt dây thần kinh số 7, hay còn gọi là liệt dây thần kinh mặt, là tình trạng suy giảm hoặc mất hoàn toàn khả năng vận động của các cơ biểu cảm trên khuôn mặt do tổn thương dây thần kinh sọ số VII. Tình trạng này khởi phát khá đột ngột, khiến khuôn mặt mất cân xứng, miệng méo lệch sang bên lành, mí mắt bên bệnh không thể nhắm kín và gây cản trở trực tiếp đến hoạt động ăn uống cũng như khả năng phát âm của người bệnh.

Về mặt lâm sàng, bệnh lý này được chia làm hai thể chính là liệt mặt ngoại biên và liệt mặt trung ương, trong đó liệt ngoại biên nguyên phát chiếm tỷ lệ phổ biến nhất. Đa phần các trường hợp ngoại biên liên quan đến tình trạng phù nề, chèn ép dây thần kinh trong ống xương thái dương sau khi nhiễm lạnh hoặc phản ứng sau nhiễm virus.
Việc nhận diện sớm trong 48 đến 72 giờ đầu tiên có ý nghĩa then chốt để phân biệt tổn thương ngoại biên với các biến cố mạch máu não nguy hiểm. Thăm khám y khoa kịp thời giúp bệnh nhân được can thiệp đúng hướng và bảo vệ mắt khỏi biến chứng.
Tổng quan về liệt dây thần kinh số 7
Dây thần kinh số 7, hay dây thần kinh mặt, là một trong mười hai đôi dây thần kinh sọ não quan trọng với cấu trúc hỗn hợp phức tạp. Dây thần kinh này đảm nhiệm đồng thời ba chức năng sinh lý chính: vận động toàn bộ các cơ bám da mặt và cơ bám da cổ giúp biểu hiện cảm xúc trên gương mặt; dẫn truyền cảm giác vị giác ở hai phần ba trước lưỡi cùng cảm giác nông vùng ống tai ngoài; và chi phối hệ phó giao cảm điều hòa hoạt động bài tiết của tuyến lệ cùng các tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi.
Về mặt giải phẫu, dây thần kinh mặt có nguyên ủy từ các nhân vận động tại cầu não, hạch gối và các nhân bài tiết tự chủ. Từ thân não, dây thần kinh đi qua rãnh hành cầu, chui vào xương đá qua lỗ ống tai trong, đi trong một ống xương hẹp trước khi thoát ra ngoài sọ qua lỗ trâm chũm để phân nhánh chi phối các cơ mặt. Do đoạn nằm trong xương đá có không gian vô cùng chật hẹp, bất kỳ tình trạng viêm nhiễm, phù nề hay ứ trệ tuần hoàn nào cũng dễ dàng khiến dây thần kinh bị chèn ép cơ học, dẫn đến thiếu máu cục bộ và gián đoạn dẫn truyền tín hiệu vận động.
Liệt dây thần kinh số 7 là hội chứng bệnh lý phản ánh sự suy giảm chức năng của đường dẫn truyền này, được phân loại thành hai dạng tổn thương chính. Liệt mặt ngoại biên xuất hiện khi tổn thương xảy ra từ nhân thần kinh mặt trở ra ngoại vi, làm yếu liệt hoàn toàn toàn bộ một nửa mặt cùng bên, bao gồm cả vùng trán, mí mắt và khóe miệng. Ngược lại, liệt mặt trung ương phát sinh do tổn thương phía trên nhân ở bán cầu não, thường chỉ gây yếu một phần tư dưới của khuôn mặt đối bên, trong khi vùng trán và cơ vòng mi vẫn cử động bình thường nhờ cơ chế chi phối vỏ não hai bên đối với nhóm cơ nửa trên mặt.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân gây liệt dây thần kinh số 7 rất đa dạng và được phân định rõ ràng dựa trên bản chất tổn thương trung ương hay ngoại biên. Hiểu rõ các tác nhân này giúp bác sĩ xác định chính xác căn nguyên và đưa ra hướng can thiệp hiệu quả.
Đối với liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên, nguyên nhân phổ biến nhất là liệt Bell vô căn, chiếm khoảng 70% các ca mắc. Cơ chế bệnh sinh của liệt Bell thường liên quan đến tình trạng phản ứng viêm và phù nề thứ phát sau khi cơ thể tiếp xúc đột ngột với luồng khí lạnh hoặc gió rét. Khi dây thần kinh mặt sưng to bên trong lòng ống xương thái dương hẹp, áp lực mô tăng cao làm chèn ép các mạch máu nuôi dưỡng, gây ra tình trạng thiếu máu cục bộ và suy giảm dẫn truyền thần kinh cấp tính. Ngoài ra, nhiều bằng chứng y học chỉ ra sự tái hoạt động của một số loại virus tiềm ẩn trong cơ thể cũng là tác nhân kích hoạt quá trình tự miễn này.
Bên cạnh liệt Bell, nhóm liệt ngoại biên thứ phát có thể xuất phát từ nhiều căn nguyên bệnh lý cụ thể:
Thứ nhất là nhiễm trùng do virus hoặc vi khuẩn. Điển hình là hội chứng Ramsay Hunt do virus thủy đậu Varicella Zoster tái hoạt động tại hạch gối, gây liệt mặt kèm theo các nốt mụn nước đặc trưng ở ống tai ngoài và vòm họng. Các bệnh lý tai mũi họng như viêm tai giữa cấp tính, viêm xương chũm, khối u biểu bì cholesteatoma hoặc viêm tai ngoài hoại tử cũng có thể lan rộng làm tổn thương dây thần kinh. Một số trường hợp hiếm gặp hơn liên quan đến bệnh Lyme lây truyền qua vết đốt của bọ ve.
Thứ hai là tổn thương do chấn thương cơ học. Các chấn thương sọ não gây vỡ rạn xương đá, gãy xương thái dương hoặc các vết thương cắt xẻ vùng mặt, góc hàm có thể làm đụng dập hoặc đứt rời nhánh thần kinh mặt.
Thứ ba là sự chèn ép từ các khối u. Khối u tuyến mang tai, u dây thần kinh thính giác vùng góc cầu tiểu não hoặc u màng não tiến triển chậm chạp gây chèn ép dần dần lên dây thần kinh.
Thứ tư là các bệnh lý viêm đa dây thần kinh và tự miễn dịch như hội chứng Guillain-Barre, bệnh u hạt sarcoidosis hay bệnh xơ cứng rải rác.
Ngược lại, liệt dây thần kinh số 7 trung ương hầu như luôn xuất phát từ các tổn thương thực thể nghiêm trọng tại hệ thần kinh trung ương. Các nguyên nhân hàng đầu bao gồm đột quỵ não do nhồi máu não hoặc xuất huyết não, u não nguyên phát hay di căn, và các ổ áp xe não chèn ép vào bán cầu đại não.
Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh bao gồm sự suy giảm sức đề kháng, người có tiền sử đái tháo đường, phụ nữ trong tam cá nguyệt thứ ba của thai kỳ, người cao tuổi và những người có thói quen tắm đêm hoặc ngồi trực diện luồng gió máy lạnh nhiệt độ thấp.
Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp
Các biểu hiện của liệt dây thần kinh số 7 thường khởi phát rất nhanh và đột ngột, nhiều bệnh nhân chỉ phát hiện ra tình trạng bất thường vào buổi sáng sau khi thức dậy hoặc khi soi gương, đánh răng. Mức độ suy giảm vận động cơ mặt thường đạt đến đỉnh điểm trong vòng 24 đến 72 giờ đầu tiên.
Đối với trường hợp liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên, triệu chứng nổi bật nhất là sự mất đối xứng hoàn toàn giữa hai nửa khuôn mặt. Nửa mặt bên bị bệnh trở nên bất động và chùng nhão, các nếp nhăn tự nhiên như nếp nhăn trán và rãnh mũi má bị xóa mờ hoặc biến mất hoàn toàn. Khóe miệng bị kéo lệch rõ rệt về phía bên lành, đặc biệt khi người bệnh cười, nói hoặc nhe răng. Người bệnh không thể thực hiện các động tác biểu cảm thông thường như cau mày, phồng má hoặc huýt sáo do cơ vòng miệng bị mất trương lực, khiến hơi bị thoát ra ngoài ở bên tổn thương. Khi ăn uống, thức ăn thường xuyên bị đọng lại ở khoang miệng giữa răng và má, nước uống dễ bị trào ra ngoài khóe miệng kèm theo hiện tượng chảy nước dãi mất kiểm soát.
Vùng mắt là khu vực thể hiện tổn thương rất rõ nét và cần được đặc biệt lưu ý. Do cơ vòng mi bị liệt, mí mắt bên bệnh không thể khép kín lại hoàn toàn, tạo nên khe hở mi khiến lòng trắng lộ ra ngoài. Khi bác sĩ yêu cầu người bệnh cố gắng nhắm chặt mắt, nhãn cầu bên liệt sẽ tự động đảo lên trên và ra ngoài, để lộ một mảng củng mạc trắng dã, đây là dấu hiệu Charles Bell kinh điển trong chẩn đoán lâm sàng. Tình trạng hở mi kéo dài dẫn đến khô kết mạc, cay rát mắt, đỏ mắt hoặc ngược lại gây hiện tượng chảy nước mắt sống liên tục do cơ chế dẫn lưu nước mắt qua túi lệ bị gián đoạn.
Ngoài khiếm khuyết vận động, bệnh nhân còn có thể trải qua một số triệu chứng tiền triệu và cảm giác khó chịu đi kèm. Rất nhiều trường hợp xuất hiện cảm giác đau nhức âm ỉ ở vùng sau tai hoặc xương chũm trước khi mặt bị liệt từ một đến hai ngày. Bệnh nhân có thể thấy tê bì nhẹ nửa mặt, mất cảm giác vị giác ở hai phần ba trước lưỡi, và tăng tính nhạy cảm với âm thanh khiến tiếng động thông thường trở nên vang chói, đau buốt trong tai do cơ xương bàn đạp bị mất khả năng kiểm soát. Nếu nguyên nhân do virus Herpes Zoster trong hội chứng Ramsay Hunt, vành tai và ống tai ngoài sẽ xuất hiện thêm các chùm mụn nước đau rát dữ dội kèm theo chóng mặt.
Khác biệt hoàn toàn với thể ngoại biên, người bị liệt dây thần kinh số 7 trung ương chỉ bị mất vận động ở một phần tư dưới của khuôn mặt đối bên tổn thương não. Bệnh nhân vẫn có thể nhăn trán, nhướng mày và nhắm chặt hai mắt như bình thường. Liệt trung ương hầu như luôn đi kèm với các dấu hiệu thần kinh khu trú nguy hiểm khác như tê yếu nửa người, méo miệng phối hợp với mất khả năng nói lưu loát, đòi hỏi sự cấp cứu khẩn trương.
Bảng phân biệt liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên và trung ương
| Đặc điểm so sánh | Liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên | Liệt dây thần kinh số 7 trung ương |
|---|---|---|
| Vị trí tổn thương | Tổn thương từ nhân dây thần kinh mặt ở cầu não trở ra ngoại vi | Tổn thương bán cầu não phía trên nhân dây thần kinh mặt |
| Phạm vi liệt cơ mặt | Liệt hoàn toàn một nửa khuôn mặt cùng bên tổn thương (cả nửa trên và nửa dưới) | Chỉ liệt một phần tư dưới của khuôn mặt đối bên tổn thương |
| Nếp nhăn trán và cung mày | Mất hoàn toàn nếp nhăn trán và cung mày bên liệt bị sụp xệ | Vẫn giữ nguyên nếp nhăn trán và cử động nhướng mày bình thường |
| Khả năng nhắm mắt | Mắt nhắm không kín hoàn toàn, dương tính với dấu hiệu Charles Bell | Mắt hai bên vẫn nhắm kín hoàn toàn bình thường |
| Triệu chứng toàn thân kèm theo | Có thể đau sau tai, giảm vị giác 2/3 trước lưỡi, tăng thính lực | Thường đi kèm yếu liệt nửa người, tê bì nửa người hoặc rối loạn ngôn ngữ |
Chẩn đoán
Quy trình chẩn đoán liệt dây thần kinh số 7 đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa thăm khám lâm sàng tỉ mỉ và các kỹ thuật cận lâm sàng chuyên sâu nhằm xác định chính xác vị trí tổn thương, mức độ suy giảm dẫn truyền và tìm kiếm nguyên nhân tiềm ẩn.
Đầu tiên, bác sĩ chuyên khoa thần kinh sẽ tiến hành thăm khám chức năng vận động vùng mặt thông qua một loạt nghiệm pháp đơn giản: yêu cầu bệnh nhân nhướng trán, cau mày, nhắm chặt mắt, phồng hai má, huýt sáo và nhe răng cười. Đây là bước mấu chốt để phân định ranh giới giữa liệt ngoại biên và liệt trung ương. Nếu người bệnh mất hoàn toàn khả năng tạo nếp nhăn trán và xuất hiện dấu hiệu Charles Bell ở mắt cùng bên với bên miệng bị lệch, chẩn đoán liệt ngoại biên được xác lập. Ngược lại, nếu trán vẫn cử động bình thường và mắt vẫn nhắm kín nhưng khóe miệng bị lệch rõ rệt, bác sĩ phải lập tức kích hoạt quy trình tầm soát đột quỵ não. Để lượng hóa mức độ suy giảm vận động, hệ thống thang điểm House-Brackmann từ độ I đến độ VI thường được áp dụng nhằm theo dõi diễn tiến qua từng giai đoạn.
Bên cạnh khám vận động, việc nội soi tai mũi họng là bắt buộc nhằm quan sát màng nhĩ, kiểm tra xem có sự hiện diện của mụn nước ở vành tai hay ống tai ngoài để chẩn đoán hội chứng Ramsay Hunt, đồng thời sờ nắn tuyến mang tai để loại trừ khối u chèn ép.
Khi cần đánh giá chuyên sâu hơn, các xét nghiệm cận lâm sàng sẽ được chỉ định:
Đo dẫn truyền thần kinh mặt và ghi điện cơ đồ thường được thực hiện sau khoảng 7 đến 14 ngày kể từ khi khởi phát bệnh. Kỹ thuật này giúp bác sĩ đánh giá chính xác mức độ thoái hóa sợi trục thần kinh, từ đó đưa ra tiên lượng khả năng hồi phục hoàn toàn hay nguy cơ để lại di chứng.
Chụp cộng hưởng từ sọ não có tiêm thuốc đối quang từ là phương tiện hình ảnh giá trị nhất để khảo sát toàn bộ đường đi của dây thần kinh số 7, giúp phát hiện sớm các khối u góc cầu tiểu não, tổn thương viêm màng não hoặc đột quỵ thân não.
Chụp cắt lớp vi tính xương thái dương được ưu tiên khi bệnh nhân có tiền sử chấn thương đầu mặt nhằm khảo sát các đường nứt vỡ xương đá hoặc kiểm tra bệnh lý viêm xương chũm mạn tính.
Các biến chứng thường gặp của liệt dây thần kinh số 7
Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, hoặc trong các trường hợp tổn thương sợi trục mức độ nặng, liệt dây thần kinh số 7 có thể dẫn đến nhiều biến chứng phức tạp gây ảnh hưởng nặng nề đến thẩm mỹ và chức năng sinh hoạt hàng ngày của người bệnh.
Biến chứng nghiêm trọng nhất xảy ra tại mắt do tình trạng hở mi kéo dài. Khi mắt không thể nhắm kín, giác mạc bị mất đi lớp màng nước mắt bảo vệ tự nhiên, dẫn đến khô mắt, viêm kết mạc, viêm loét giác mạc và thậm chí thủng giác mạc gây suy giảm thị lực vĩnh viễn. Một số bệnh nhân còn gặp tình trạng lộn mi dưới khiến mắt thường xuyên chảy nước mắt sống và dễ bị kích ứng bởi khói bụi môi trường.
Biến chứng rối loạn phân bố thần kinh sau phục hồi bao gồm hiện tượng tăng đồng vận và hội chứng nước mắt cá sấu. Tăng đồng vận xuất hiện khi các sợi thần kinh trong quá trình tái sinh bị định hướng sai lệch và phân nhánh bất thường sang các nhóm cơ khác, khiến người bệnh nhắm mắt thì khóe miệng bị giật co rút lên, hoặc khi há miệng thì mắt tự động nháy lại (dấu Marin-Amat). Tương tự, hội chứng nước mắt cá sấu xảy ra khi các sợi thần kinh tiết nước bọt mọc lạc chỗ vào tuyến lệ, khiến bệnh nhân tự động chảy nước mắt giàn giụa mỗi khi nhai thức ăn.
Ngoài ra, co thắt nửa mặt sau liệt là di chứng muộn thường gặp ở các ca bệnh diễn tiến kéo dài. Tình trạng này đặc trưng bởi các cơn co giật giật không tự chủ của các cơ một bên mặt, gây biến dạng khuôn mặt khi giao tiếp, tạo cảm giác đau mỏi cơ kéo dài và tác động tiêu cực đến tâm lý tự tin của người bệnh.
Hướng xử trí và theo dõi y khoa
Mục tiêu hàng đầu trong xử trí liệt dây thần kinh số 7 là nhanh chóng giải phóng chèn ép cơ học, chống phù nề dây thần kinh, bảo vệ giác mạc khỏi nguy cơ tổn thương vĩnh viễn và tích cực phục hồi chức năng vận động cho hệ cơ mặt. Việc tiếp cận y tế trong vòng 72 giờ đầu tiên là cơ hội vàng quyết định tiên lượng của người bệnh.
Trong giai đoạn cấp tính, can thiệp nội khoa giữ vị trí trung tâm dưới sự chỉ định chặt chẽ của bác sĩ chuyên khoa. Nhóm thuốc chống viêm corticosteroid đường uống thường được ưu tiên chỉ định sớm nhằm dập tắt phản ứng viêm mô kẽ, giảm sưng nề dây thần kinh trong lòng ống xương hẹp, từ đó khôi phục lại dòng máu nuôi dưỡng và ngăn chặn quá trình thoái hóa sợi trục. Đối với các ca bệnh nghi ngờ có căn nguyên nhiễm virus hoặc được chẩn đoán mắc hội chứng Ramsay Hunt, phác đồ kết hợp thuốc kháng virus đặc hiệu sẽ được bác sĩ cân nhắc bổ sung. Ngoài ra, việc bổ sung các vitamin nhóm B liều cao và các hợp chất hỗ trợ dinh dưỡng bao myelin cũng thường được phối hợp để thúc đẩy quá trình tái tạo dẫn truyền. Bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý mua thuốc, tự thay đổi liều lượng hoặc ngừng thuốc đột ngột vì có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm.
Song song với việc dùng thuốc, chăm sóc và bảo vệ mắt là nhiệm vụ bắt buộc không thể lơ là nhằm ngăn ngừa viêm loét giác mạc do mắt không thể nhắm kín. Người bệnh cần nhỏ dung dịch nước mắt nhân tạo nhiều lần trong ngày để duy trì độ ẩm cho bề mặt nhãn cầu, đồng thời tra thuốc mỡ bôi trơn mắt chuyên dụng vào ban đêm trước khi đi ngủ. Khi ra ngoài trời, việc đeo kính râm bảo hộ giúp che chắn gió và bụi bẩn. Khi ngủ, có thể dùng miếng gạc sạch hoặc dán băng dính y tế chuyên dụng để khép mí mắt nhẹ nhàng, tránh để bề mặt mắt tiếp xúc trực tiếp với không khí khô.
Khi tình trạng viêm cấp tính bắt đầu lắng xuống, các biện pháp phục hồi chức năng đóng vai trò chủ đạo. Người bệnh được hướng dẫn thực hiện các bài tập vận động cơ mặt chủ động trước gương, bao gồm tập nhăn trán, nhắm mắt có kiểm soát, phồng má, chu môi và mỉm cười nhẹ nhàng để kích thích não bộ tái lập liên kết vận động. Các phương pháp nhiệt trị liệu như chườm ấm vùng cơ mặt giúp giãn cơ và thúc đẩy tuần hoàn máu tại chỗ. Liệu pháp châm cứu và xoa bóp bấm huyệt theo y học cổ truyền cũng là phương pháp hỗ trợ hiệu quả được áp dụng rộng rãi, tuy nhiên cần được thực hiện bởi các thầy thuốc có chứng chỉ chuyên môn để kiểm soát lực kích thích, tránh tình trạng kích thích quá mức gây co thắt hoặc đồng vận cơ mặt.
Can thiệp ngoại khoa chỉ được chỉ định trong một số tình huống đặc biệt như chấn thương làm đứt rời dây thần kinh cần phẫu thuật vi phẫu nối ghép, phẫu thuật bóc tách khối u chèn ép, hoặc phẫu thuật giải áp dây thần kinh trong xương đá khi điện cơ đồ cho thấy sợi trục bị thoái hóa trên 90%. Ở những bệnh nhân mắc di chứng liệt mặt mạn tính sau nhiều năm, các phẫu thuật chuyển vạt cơ hoặc treo cung mày có thể được xem xét nhằm tái tạo tính thẩm mỹ và cải thiện chức năng nhắm mắt.
Phòng ngừa và giảm nguy cơ
Phòng ngừa liệt dây thần kinh số 7 chủ yếu dựa trên việc hạn chế tối đa các yếu tố khởi phát liên quan đến nhiễm lạnh đột ngột, bảo vệ hệ thần kinh và chủ động nâng cao sức đề kháng tự nhiên của cơ thể.
Biện pháp quan trọng hàng đầu trong sinh hoạt hàng ngày là tránh để cơ thể bị thay đổi nhiệt độ đột ngột. Khi thời tiết chuyển mùa hoặc vào mùa đông gió rét, người dân cần chú ý giữ ấm kỹ lưỡng vùng đầu, mặt, tai và cổ bằng mũ len, khăn quàng và khẩu trang dày khi ra ngoài trời. Sau khi tắm nước ấm hoặc sau khi vận động thể thao toát nhiều mồ hôi, tuyệt đối không được bước ngay vào phòng có điều hòa nhiệt độ thấp hoặc ngồi trực diện trước luồng gió quạt mạnh. Trong phòng ngủ, cần điều chỉnh hướng gió của máy lạnh và quạt sao cho không phả thẳng trực tiếp vào vùng mặt suốt đêm, đồng thời cài đặt nhiệt độ phòng ở mức dễ chịu, thông thường từ 25 đến 27 độ C. Thói quen tắm gội vào ban đêm muộn cũng cần được loại bỏ triệt để vì đây là thời điểm nhiệt độ môi trường hạ thấp, cơ thể dễ bị nhiễm lạnh gây co thắt mạch máu nuôi dây thần kinh.
Bên cạnh việc giữ ấm, quản lý các bệnh lý nội khoa và kiểm soát ổ nhiễm trùng tại chỗ đóng vai trò cốt lõi. Bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường hoặc tăng huyết áp cần tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ để duy trì chỉ số đường huyết và huyết áp ổn định, giúp bảo vệ tính toàn vẹn của hệ vi mạch nuôi dưỡng dây thần kinh. Khi mắc các bệnh lý viêm nhiễm đường hô hấp trên và tai mũi họng như viêm tai giữa, viêm tai ngoài hay viêm amidan, người bệnh cần điều trị dứt điểm theo chỉ dẫn y khoa, không để ổ viêm mạn tính lan sâu vào xương đá gây biến chứng thần kinh.
Ngoài ra, duy trì một chế độ dinh dưỡng cân đối giàu vitamin nhóm B, vitamin C và các chất chống oxy hóa từ rau xanh, trái cây tươi giúp tăng cường hệ miễn dịch. Việc tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin như vắc xin phòng ngừa thủy đậu và vắc xin zona thần kinh cũng góp phần giảm thiểu rõ rệt nguy cơ mắc hội chứng Ramsay Hunt. Người dân cũng cần chú ý mang đồ bảo hộ lao động và đội mũ bảo hiểm đạt chuẩn khi tham gia giao thông nhằm phòng ngừa các chấn thương vỡ xương sọ vùng thái dương.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Bất kỳ trường hợp nào xuất hiện tình trạng yếu liệt cơ mặt đột ngột đều cần được xem là một tình trạng y tế khẩn cấp đòi hỏi phải được thăm khám bác sĩ ngay trong ngày. Việc phân biệt chính xác giữa liệt mặt ngoại biên lành tính và cơn tai biến mạch máu não đe dọa tính mạng là ưu tiên số một.
Người bệnh hoặc người nhà cần lập tức gọi cấp cứu 115 hoặc đưa bệnh nhân đến khoa cấp cứu của bệnh viện gần nhất nếu tình trạng méo miệng đi kèm với bất kỳ dấu hiệu cảnh báo đột quỵ nào sau đây:
Thứ nhất là yếu liệt hoặc tê bì ở một bên cánh tay hoặc cẳng chân, khiến người bệnh không thể giơ đều hai tay hoặc mất thăng bằng khi đi lại.
Thứ hai là rối loạn ngôn ngữ, biểu hiện qua giọng nói ngọng nghịu, khó diễn đạt câu từ hoặc không hiểu được lời nói của người xung quanh.
Thứ ba là xuất hiện cơn đau đầu dữ dội đột ngột, nhìn mờ, nhìn đôi hoặc suy giảm ý thức.
Nếu người bệnh chỉ có triệu chứng méo mặt đơn thuần và nghi ngờ là liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên, việc đến khám tại chuyên khoa Nội Thần kinh trong vòng 24 đến 48 giờ đầu tiên vẫn là yêu cầu bắt buộc. Đây là giai đoạn quan trọng nhất để bác sĩ kê đơn thuốc chống viêm nhằm cứu vãn các sợi thần kinh trước khi xảy ra thoái hóa nặng.
Ngoài ra, người bệnh cần đi khám chuyên khoa Mắt hoặc tái khám ngay nếu xuất hiện các dấu hiệu cảnh báo tổn thương giác mạc như mắt đỏ rực, cảm giác cộm xốn dữ dội như có dị vật, đau nhức hốc mắt sâu hoặc suy giảm thị lực. Sự xuất hiện của các chùm mụn nước đau rát quanh vành tai, ống tai kèm theo chóng mặt cũng là dấu hiệu cần được điều trị y tế khẩn cấp để ngăn chặn biến chứng giảm thính lực.
Lưu ý an toàn
Người bệnh khi phát hiện các triệu chứng của liệt dây thần kinh số 7 cần hết sức thận trọng và tuân thủ các nguyên tắc an toàn y khoa. Tuyệt đối không áp dụng các phương pháp chữa trị dân gian truyền miệng chưa được kiểm chứng khoa học như dán cao nóng, đắp các loại lá thuốc không rõ nguồn gốc lên mặt, chích nặn máu ở dái tai hoặc các đầu ngón tay. Những hành động này không mang lại hiệu quả hồi phục dây thần kinh mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây bỏng da, nhiễm trùng mô bào, để lại sẹo xấu và làm lỡ mất thời điểm vàng can thiệp y tế trong 72 giờ đầu.
Bệnh nhân tuyệt đối không được tự ý tìm mua các loại thuốc kháng viêm chứa corticoid hoặc kháng sinh để tự điều trị tại nhà mà không có đơn thuốc của bác sĩ, bởi việc sử dụng sai chỉ định có thể gây xuất huyết dạ dày, tăng huyết áp kịch phát và nhiều tai biến chuyển hóa nguy hại. Trong quá trình phục hồi chức năng, cần tránh các liệu pháp châm cứu hoặc kích thích điện quá mạnh tại các cơ sở không có giấy phép, vì việc kích thích cơ thô bạo có thể làm rối loạn quá trình tái phân bố thần kinh, dẫn đến di chứng co thắt nửa mặt vĩnh viễn. Toàn bộ nội dung trong bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp kiến thức giáo dục sức khỏe tổng quát, không thể thay thế cho quy trình thăm khám và phác đồ điều trị cá thể hóa do bác sĩ chuyên khoa trực tiếp chỉ định.
Kết luận
Liệt dây thần kinh số 7 tuy là một bệnh lý khởi phát đột ngột và gây ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ khuôn mặt cũng như tâm lý của người bệnh, nhưng đa số các trường hợp ngoại biên đều có tiên lượng phục hồi rất khả quan nếu được tiếp cận y tế kịp thời trong giai đoạn sớm. Sự phối hợp đồng bộ giữa việc dùng thuốc giảm viêm đúng phác đồ, thực hiện các bài tập phục hồi chức năng cơ mặt kiên trì và chăm sóc bảo vệ mắt cẩn thận là chìa khóa then chốt giúp người bệnh lấy lại nụ cười cân đối và sự tự tin trong cuộc sống.
Khi nhận thấy bất kỳ biểu hiện bất thường nào trên cơ mặt, người bệnh cần giữ bình tĩnh, tránh hoang mang và không áp dụng các biện pháp truyền miệng phản khoa học. Việc chủ động đến thăm khám sớm tại các cơ sở y tế chuyên khoa nội thần kinh sẽ giúp chẩn đoán chính xác thể bệnh, loại trừ các nguy cơ nguy hiểm từ não bộ và nhận được kế hoạch chăm sóc phục hồi an toàn, hiệu quả nhất.
Nguồn tham khảo
- Diamond M, Wartmann CT, Tubbs RS, Shoja MM, Cohen‐Gadol AA, Loukas M. Peripheral facial nerve communications and their clinical implications. Clinical Anatomy. 2011;24(1):10-18.
- Sajadi MM, Sajadi M-RM, Tabatabaie SM. The history of facial palsy and spasm: Hippocrates to Razi. Neurology. 2011;77(2):174-178.
- Walker NR, Mistry RK, Mazzoni T. Facial Nerve Palsy. StatPearls. StatPearls Publishing Copyright © 2022, StatPearls Publishing LLC.; 2022.
- Hohman MH, Hadlock TA. Etiology, diagnosis, and management of facial palsy: 2000 patients at a facial nerve center. The Laryngoscope. 2014;124(7):E283-E293.
- My.clevelandclinic.org
FAQ – Câu hỏi thường gặp
Liệt dây thần kinh số 7 có chữa khỏi hoàn toàn được không?
Đa số các trường hợp liệt dây thần kinh số 7 ngoại biên, đặc biệt là liệt Bell, có tiên lượng phục hồi rất tốt với tỷ lệ hồi phục hoàn toàn hoặc gần như hoàn toàn lên tới 70 đến 80 phần trăm nếu được phát hiện và điều trị đúng cách trong những ngày đầu. Tuy nhiên, mức độ phục hồi còn phụ thuộc vào mức độ tổn thương sợi trục, tuổi tác, bệnh lý nền đi kèm và thời điểm bắt đầu can thiệp y tế. Một số ít trường hợp tổn thương nặng có thể hồi phục chậm hơn hoặc để lại di chứng co thắt cơ mặt nhẹ.
Thời gian điều trị và hồi phục liệt dây thần kinh số 7 thường kéo dài bao lâu?
Thời gian phục hồi chức năng cơ mặt có sự khác biệt lớn giữa từng cá nhân. Ở những trường hợp nhẹ và điều trị sớm, các dấu hiệu vận động thường bắt đầu cải thiện sau khoảng 2 đến 3 tuần và có thể phục hồi ổn định sau 2 đến 3 tháng. Với những ca tổn thương sâu hoặc có thoái hóa thần kinh nặng, quá trình tái sinh sợi trục diễn ra chậm hơn và có thể mất từ 6 tháng đến 1 năm. Bệnh nhân cần kiên trì tập luyện theo đúng hướng dẫn của chuyên viên phục hồi chức năng.
Bệnh nhân bị liệt dây thần kinh số 7 có nên châm cứu không?
Châm cứu là một phương pháp hỗ trợ phục hồi chức năng được ứng dụng rộng rãi trong y học cổ truyền, có tác dụng tăng cường tuần hoàn vi mạch tại chỗ và kích thích dẫn truyền thần kinh cơ. Tuy nhiên, phương pháp này nên được thực hiện sau giai đoạn viêm cấp tính và bắt buộc phải do các bác sĩ hoặc kỹ thuật viên y học cổ truyền có chứng chỉ chuyên môn trực tiếp thực hiện. Tuyệt đối không lạm dụng châm cứu với cường độ điện quá mạnh tại các cơ sở không đảm bảo chuyên môn để phòng tránh biến chứng co cứng cơ mặt.
Người bị liệt dây thần kinh số 7 nên có chế độ dinh dưỡng như thế nào?
Chế độ ăn uống lành mạnh đóng vai trò hỗ trợ phục hồi thần kinh. Người bệnh nên bổ sung các thực phẩm giàu vitamin nhóm B như thịt nạc, cá, trứng, đậu đỗ và ngũ cốc nguyên hạt; các thực phẩm giàu vitamin C và chất chống oxy hóa từ cam, quýt, rau xanh để tăng cường sức đề kháng; cùng các axit béo omega-3 từ cá biển giúp kháng viêm. Do cơ mặt bên liệt bị yếu khiến thức ăn dễ đọng lại ở má, người bệnh nên ăn các món mềm, dễ nhai nuốt, tránh thức ăn quá dai hoặc quá cứng, và súc miệng sạch sau mỗi bữa ăn.
