Bệnh sán lá phổi: Nguyên nhân, dấu hiệu và cách điều trị
Nội dung chỉ cung cấp thông tin tham khảo, không thay thế chẩn đoán, khám hoặc điều trị của người hành nghề y tế. Không tự ý dùng, ngừng hoặc thay đổi thuốc dựa trên bài viết.
Bệnh sán lá phổi là một bệnh nhiễm trùng do các loài sán lá thuộc chi Paragonimus xâm nhập và ký sinh tại nhu mô phổi cũng như đường hô hấp dưới của người. Bệnh lưu hành chủ yếu tại các khu vực miền núi có thói quen ẩm thực ăn đồ thủy hải sản nước ngọt tươi sống hoặc nướng chưa chín kỹ, đặc biệt là các loài cua suối và tôm nước ngọt.

Phần lớn người mắc bệnh sán lá phổi tìm đến cơ sở y tế vì những cơn ho dai dẳng kéo dài nhiều tháng, đau tức ngực và đặc biệt là hiện tượng ho ra máu tái đi tái lại. Do những biểu hiện lâm sàng này rất giống với bệnh lao phổi, viêm phế quản mạn tính hoặc ung thư phổi, người bệnh thường bị chẩn đoán nhầm hoặc điều trị muộn.
Việc nhận diện đúng đường lây truyền và dấu hiệu cảnh báo của bệnh sán lá phổi đóng vai trò quyết định trong quá trình hồi phục. Khi được bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán chính xác bằng các xét nghiệm tìm trứng sán hoặc huyết thanh học, người bệnh có thể được tiếp nhận phác đồ điều trị hiệu quả nhằm loại bỏ căn nguyên bằng các nhóm thuốc kháng ký sinh trùng đặc hiệu, ngăn chặn nguy cơ tổn thương phổi không hồi phục và các biến chứng lạc chỗ nguy hiểm.
Tổng quan về bệnh sán lá phổi
Sán lá phổi là tên gọi chung của nhóm ký sinh trùng thuộc giống Paragonimus, một loài sán dẹp có khả năng gây tổn thương mạn tính đường hô hấp ở người và động vật có vú. Trên phạm vi toàn cầu, y văn ghi nhận hơn 40 loài thuộc giống Paragonimus, trong đó loài Paragonimus westermani phân bố rộng rãi tại khu vực châu Á và là căn nguyên phổ biến nhất gây bệnh ở người. Riêng tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học và ký sinh trùng học đã xác định loài Paragonimus heterotremus là tác nhân gây bệnh chủ yếu trên người, với các ổ bệnh tập trung ở vùng trung du và miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ, Lạng Sơn và Nghệ An.
Về đặc điểm hình thái học, sán lá phổi trưởng thành có thân dày, hình bầu dục hơi dẹp theo hướng lưng bụng, trông gần giống hình hạt cà phê với màu nâu đỏ hoặc hồng nhạt đặc trưng. Kích thước của sán trưởng thành dao động với chiều dài khoảng 7 đến 16 milimét và chiều rộng khoảng 4 đến 8 milimét. Cơ thể sán lá phổi có hai giác hút gồm giác miệng và giác bụng giúp chúng bám chắc vào các tổ chức mô. Đây là sinh vật lưỡng tính, sở hữu cả buồng trứng và tinh hoàn trong cùng một cá thể, cho phép chúng liên tục đẻ một lượng lớn trứng có nắp trong các nang ở mô phổi người bệnh.
Quá trình gây bệnh bắt đầu khi nang ấu trùng thoát vỏ tại tá tràng, xuyên qua thành ruột vào khoang phúc mạc, rồi tiếp tục đục thủng cơ hoành để đi vào khoang màng phổi và nhu mô phổi. Tại đây, sán hình thành các nang xơ bao quanh, gây viêm mạn tính, hoại tử mô và tiết ra các sản phẩm chuyển hóa kích thích phản ứng dị ứng của cơ thể. Ngoài vị trí ký sinh chính ở phổi, sán non trong quá trình di chuyển có thể đi lạc chỗ đến màng não, nhu mô não, gan, tủy sống hoặc dưới da, tạo thành các khối nang gây ra những tổn thương thần kinh và cơ quan vô cùng phức tạp.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân trực tiếp gây nên bệnh sán lá phổi là sự xâm nhập của ấu trùng ký sinh trùng thuộc chi Paragonimus vào cơ thể thông qua đường ăn uống. Con người không phải là vật chủ duy nhất mà đóng vai trò là vật chủ chính, cùng với các loài thú ăn thịt hoặc gặm nhấm hoang dã. Vòng đời sinh học của sán lá phổi diễn ra qua nhiều giai đoạn nối tiếp nhau và đòi hỏi sự tham gia bắt buộc của hai vật chủ phụ trung gian sống trong môi trường nước ngọt.
Giai đoạn đầu tiên của chu trình bắt đầu khi sán lá phổi trưởng thành đẻ trứng trong các nang ở nhu mô phổi. Trứng sán theo các tiểu phế quản được khạc ra ngoài cùng chất đờm, hoặc nếu người bệnh nuốt đờm thì trứng sẽ đi qua đường tiêu hóa và thải ra môi trường nước ngọt theo phân. Khi gặp điều kiện nhiệt độ và môi trường nước thích hợp, trứng phát triển và giải phóng ấu trùng lông. Ấu trùng lông bơi tự do trong nước rồi chủ động tìm kiếm và xâm nhập vào vật chủ trung gian thứ nhất là các loài ốc nước ngọt thuộc các giống như Melania hoặc Semisulcospira. Bên trong ốc, ấu trùng phát triển và sinh sản vô tính qua nhiều giai đoạn để biến đổi thành các ấu trùng đuôi.
Sau khi rời khỏi cơ thể ốc, ấu trùng đuôi bơi trong dòng nước và tìm đến vật chủ trung gian thứ hai là các loài giáp xác nước ngọt, bao gồm các loài cua suối, cua đồng và tôm nước ngọt. Tại đây, ấu trùng đuôi rụng đuôi, thâm nhập vào các thớ thịt cũng như phủ tạng của tôm cua và phát triển thành dạng nang ấu trùng có vỏ bọc bền vững. Khi con người ăn phải tôm, cua nước ngọt có chứa nang ấu trùng còn sống do chưa được chế biến chín kỹ, nang ấu trùng sẽ chịu tác động của dịch tiêu hóa ở dạ dày và tá tràng để giải phóng sán non. Sán non chủ động đục thủng thành ruột, di chuyển qua xoang bụng, xuyên qua cơ hoành để lên màng phổi và định vị tại các phế quản nhỏ, mất khoảng năm đến sáu tuần để phát triển thành sán trưởng thành.
Về các yếu tố nguy cơ, thói quen ăn uống chưa bảo đảm vệ sinh là tác nhân hàng đầu dẫn đến nhiễm bệnh. Những người thường xuyên ăn các món cua suối nướng chưa chín, gỏi cua sống, uống nước cua sống vắt làm nước chấm, hoặc ăn tôm sống theo tập quán địa phương có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao. Ngoài ra, việc sinh sống gần các con suối, lòng hồ ở khu vực miền núi có lưu hành mầm bệnh, sử dụng nguồn nước suối tự nhiên chưa qua đun sôi để rửa bát đĩa hoặc chế biến thực phẩm cũng gia tăng khả năng lây nhiễm. Những người làm việc trong môi trường khai thác thủy sản nước ngọt hoặc sinh sống trong điều kiện vệ sinh môi trường kém, quản lý nguồn phân người và phân súc vật chưa triệt để cũng là nhóm đối tượng có nguy cơ mắc bệnh cao.
Dấu hiệu và triệu chứng thường gặp
Biểu hiện lâm sàng của bệnh sán lá phổi diễn biến qua từng giai đoạn tương ứng với đường di chuyển và vị trí định vị của ký sinh trùng trong cơ thể. Thời kỳ ủ bệnh và giai đoạn đầu thường kéo dài từ vài ngày đến vài tuần sau khi ăn phải thức ăn nhiễm ấu trùng. Trong giai đoạn ấu trùng di chuyển xuyên qua thành ruột vào khoang màng bụng, người bệnh có thể xuất hiện các dấu hiệu toàn thân và tiêu hóa không điển hình như sốt nhẹ hoặc sốt vừa, đau âm ỉ vùng thượng vị hoặc quanh rốn, tiêu chảy, mệt mỏi, phát ban da dạng mề đay và ngứa ngáy do phản ứng dị ứng miễn dịch của cơ thể đối với kháng nguyên của ký sinh trùng.
Khi sán non xuyên qua cơ hoành để tiến vào khoang màng phổi và mô phổi, các triệu chứng hô hấp bắt đầu bộc lộ rõ rệt và trở thành dấu hiệu đặc trưng của bệnh. Người bệnh thường có những cơn ho kéo dài dai dẳng, ban đầu là ho khan, sau đó chuyển sang ho có đờm đặc. Dấu hiệu điển hình và phổ biến nhất của bệnh sán lá phổi là ho khạc ra đờm có lẫn máu, đờm thường có màu rỉ sắt, màu sô cô la hoặc màu nâu sẫm, tái phát nhiều lần trong năm mà không đáp ứng với các loại kháng sinh thông thường. Bên cạnh đó, bệnh nhân thường xuyên cảm thấy đau tức ngực âm ỉ hoặc nhói buốt, cảm giác hụt hơi và khó thở khi gắng sức. Khi các nang sán vỡ vào khoang màng phổi, bệnh nhân có thể đối mặt với tình trạng tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi hoặc áp xe phổi mạn tính kèm theo suy kiệt thể trạng.
Đáng chú ý, các triệu chứng hô hấp của sán lá phổi rất dễ bị nhầm lẫn với bệnh lao phổi do cả hai bệnh lý đều có chung các biểu hiện ho khạc đờm ra máu, sốt nhẹ về chiều, gầy sút cân và tức ngực. Điểm khác biệt quan trọng là bệnh nhân sán lá phổi thường có tiền sử ăn tôm cua sống hoặc sống trong vùng dịch tễ, xét nghiệm đờm nhiều lần không tìm thấy vi khuẩn lao, và số lượng bạch cầu ái toan trong máu thường tăng cao rõ rệt.
Ngoài thể bệnh ở phổi, có khoảng một phần tư số trường hợp nhập viện gặp phải tình trạng sán lá phổi di chuyển lạc chỗ tới hệ thần kinh trung ương. Sán đi vào nhu mô não hoặc màng não tạo ra các u hạt ký sinh trùng, gây hội chứng tăng áp lực nội sọ và tổn thương mô thần kinh. Người bệnh xuất hiện các triệu chứng báo động nghiêm trọng bao gồm đau đầu dữ dội kéo dài, buồn nôn và nôn vọt, suy giảm thị lực, nhìn đôi, động kinh, co giật cục bộ hoặc toàn thể, thậm chí liệt nửa người và rối loạn tri giác.
Chẩn đoán
Chẩn đoán bệnh sán lá phổi đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa khai thác kỹ lưỡng yếu tố dịch tễ, đánh giá biểu hiện lâm sàng và thực hiện các xét nghiệm cận lâm sàng chuyên sâu. Do bệnh cảnh rất dễ nhầm lẫn với các bệnh lý phổi mạn tính khác, đặc biệt là bệnh lao phổi, bác sĩ cần chủ động hỏi về thói quen ăn cua, tôm nước ngọt sống hoặc chưa nấu chín kỹ cũng như tiền sử cư trú hay làm việc tại các vùng núi có lưu hành bệnh.
Xét nghiệm trực tiếp tìm trứng sán lá phổi là tiêu chuẩn vàng để xác định chẩn đoán. Mẫu bệnh phẩm chủ yếu là đờm của người bệnh, được thu thập vào buổi sáng sớm và soi dưới kính hiển vi quang học để tìm trứng sán có nắp đặc trưng hình bầu dục màu vàng nâu. Trong trường hợp người bệnh không khạc được đờm hoặc nuốt đờm, xét nghiệm phân bằng các kỹ thuật lắng cặn cũng có thể giúp phát hiện trứng sán. Đôi khi, kỹ thuật nội soi phế quản và hút dịch rửa phế quản phế nang được chỉ định nhằm gia tăng tỷ lệ phát hiện mầm bệnh ở những ca bệnh khó.
Bên cạnh xét nghiệm vi sinh, công thức máu toàn phần thường ghi nhận tình trạng tăng đáng kể số lượng bạch cầu ái toan, một chỉ dấu sinh học quan trọng gợi ý tình trạng nhiễm ký sinh trùng xâm nhập mô. Các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh học như xét nghiệm miễn dịch gắn men ELISA giúp phát hiện kháng thể kháng Paragonimus trong huyết thanh hoặc dịch não tủy, mang lại giá trị chẩn đoán cao, đặc biệt hữu ích trong giai đoạn sớm khi sán chưa đẻ trứng hoặc ở các thể sán di chuyển lạc chỗ ngoài phổi.
Chẩn đoán hình ảnh cũng đóng vai trò thiết yếu trong việc định vị và đánh giá mức độ tổn thương. Phim chụp X-quang ngực thẳng thường bộc lộ các đám thâm nhiễm không đồng đều, các nốt mờ, tổn thương dạng hang có thành mỏng, hoặc hình ảnh tràn dịch màng phổi. Chụp cắt lớp vi tính lồng ngực cho phép quan sát chi tiết hơn các nang xơ, đường hầm di chuyển của sán trong nhu mô phổi và tình trạng dày màng phổi. Đối với các trường hợp nghi ngờ biến chứng thần kinh, chụp cộng hưởng từ não là chỉ định bắt buộc để phát hiện các ổ tổn thương dạng u hạt, phù não hoặc biến dạng cấu trúc nội sọ.
Bảng so sánh đặc điểm phân biệt giữa bệnh sán lá phổi và bệnh lao phổi
| Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng | Bệnh sán lá phổi (Paragonimiasis) | Bệnh lao phổi (Tuberculosis) |
|---|---|---|
| Tác nhân gây bệnh | Ký sinh trùng sán lá chi Paragonimus | Vi khuẩn lao Mycobacterium tuberculosis |
| Đường lây truyền chính | Đường tiêu hóa qua ăn tôm cua sống | Đường hô hấp qua giọt bắn không khí |
| Tính chất đờm | Đờm lẫn máu màu rỉ sắt hoặc màu sô cô la | Đờm nhầy mủ, có thể lẫn vệt máu tươi |
| Bạch cầu ái toan trong máu | Thường tăng cao rõ rệt | Bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ |
| Xét nghiệm vi sinh xác định | Tìm thấy trứng sán lá phổi trong đờm hoặc phân | Nhuộm soi AFB hoặc PCR tìm vi khuẩn lao |
| Điều trị đặc hiệu | Thuốc diệt ký sinh trùng (như Praziquantel) | Phác đồ phối hợp kháng sinh chống lao |
Biến chứng nguy hiểm và thể sán lá phổi di chuyển lạc chỗ
Khi bệnh sán lá phổi không được phát hiện và can thiệp kịp thời, ký sinh trùng có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề tại hệ hô hấp. Sự hiện diện kéo dài của nang sán làm xơ hóa nhu mô phổi, phá hủy các phế quản nhỏ dẫn đến giãn phế quản mạn tính, viêm màng phổi dày dính và suy giảm chức năng thông khí vĩnh viễn. Ngoài ra, ổ nang vỡ có thể gây tràn dịch màng phổi dưỡng chấp, tràn khí màng phổi tự phát hoặc bội nhiễm vi khuẩn tạo thành các ổ áp xe phổi lớn đe dọa tính mạng.
Đặc biệt nguy hiểm là tình trạng sán lá phổi lạc chỗ ngoài cơ quan hô hấp, chiếm tỷ lệ đáng kể ở các bệnh nhân nhập viện nặng. Sán non trong quá trình di chuyển qua xoang cơ thể có thể xâm nhập vào các mô mềm dưới da tạo thành các khối u cục di động không đau, đi vào ổ bụng gây viêm phúc mạc dính, hoặc lạc chỗ vào gan và lách. Nghiêm trọng nhất là thể sán lá phổi ở não và tủy sống, nơi ký sinh trùng hình thành các khối nang gây chèn ép mô não, tăng áp lực nội sọ, động kinh thứ phát, liệt vận động và để lại các di chứng thần kinh vĩnh viễn nếu không được chẩn đoán và xử trí sớm.
Đặc điểm phân bố dịch tễ học của sán lá phổi
Dịch tễ học của bệnh sán lá phổi gắn liền chặt chẽ với điều kiện tự nhiên của các vùng sông suối nước ngọt và tập quán sinh hoạt của người dân bản địa. Trên thế giới, các ổ lưu hành tự nhiên tập trung nhiều nhất tại các nước khu vực Đông Á, Đông Nam Á, một số vùng thuộc châu Phi và Nam Mỹ. Tại Việt Nam, bệnh phân bố rải rác nhưng có tính chất ổ dịch địa phương rõ nét, đặc biệt là các thung lũng miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ nơi có sự hiện diện phong phú của các loài ốc suối Melania và các loài cua đá, cua suối nước ngọt.
Tập quán ẩm thực truyền thống là yếu tố quyết định mật độ lưu hành của bệnh trong quần thể dân cư. Việc chế biến các món cua suối nướng chưa chín tới, gỏi cua sống hoặc sử dụng dịch cua sống trong các bữa ăn sinh hoạt gia đình khiến mầm bệnh dễ dàng truyền sang người. Do đó, các điều tra dịch tễ học định kỳ kết hợp truyền thông thay đổi hành vi tại các vùng trọng điểm đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát và thu hẹp vùng lưu hành của bệnh sán lá phổi.
Hướng xử trí và theo dõi y khoa
Nguyên tắc cốt lõi trong xử trí bệnh sán lá phổi là tiêu diệt triệt để ký sinh trùng bằng thuốc đặc hiệu, kiểm soát các phản ứng viêm mô, giải quyết các biến chứng tại chỗ và theo dõi sát sao sau điều trị để đánh giá khả năng sạch mầm bệnh. Người bệnh cần được điều trị dưới sự chỉ định và giám sát trực tiếp của bác sĩ chuyên khoa truyền nhiễm hoặc hô hấp tại các cơ sở y tế có đủ điều kiện chuyên môn.
Nhóm biện pháp dùng thuốc kháng ký sinh trùng giữ vai trò quyết định trong việc loại bỏ hoàn toàn căn nguyên. Praziquantel hiện là hoạt chất ưu tiên hàng đầu được Tổ chức Y tế Thế giới và Bộ Y tế khuyến cáo trong điều trị bệnh sán lá phổi do có hiệu quả diệt sán cao và khả năng dung nạp tốt. Ngoài ra, hoạt chất Triclabendazole cũng là một lựa chọn thay thế hiệu quả trong phác đồ điều trị được bác sĩ cân nhắc tùy theo tình trạng người bệnh và nguồn cung ứng dược phẩm. Liệu trình dùng thuốc cần được bác sĩ cá thể hóa dựa trên cân nặng, độ tuổi, chức năng gan thận và vị trí sán ký sinh. Người bệnh tuyệt đối không được tự ý mua thuốc, không tự điều chỉnh liều lượng hoặc ngừng thuốc khi thấy triệu chứng thuyên giảm, bởi việc dùng sai liều không những làm tăng nguy cơ kháng thuốc mà còn dẫn đến tái phát dai dẳng.
Trong quá trình dùng thuốc diệt sán, sự tiêu hủy hàng loạt của ký sinh trùng có thể giải phóng các kháng nguyên lạ vào tuần hoàn, kích hoạt các phản ứng dị ứng miễn dịch toàn thân hoặc làm bùng phát phản ứng viêm cấp tính tại chỗ. Do đó, bác sĩ có thể phối hợp thêm các nhóm thuốc kháng viêm corticosteroid, thuốc kháng histamin và các thuốc giảm ho, long đờm nhằm giảm thiểu các triệu chứng khó chịu và bảo vệ các mô lành xung quanh, đặc biệt là ở những bệnh nhân có tổn thương thần kinh trung ương để ngăn ngừa hiện tượng phù não cấp tính.
Bên cạnh điều trị nội khoa, can thiệp ngoại khoa hoặc thủ thuật can thiệp tối thiểu có thể được xem xét trong các trường hợp xuất hiện biến chứng nặng. Chọc hút hoặc dẫn lưu khoang màng phổi được thực hiện khi có tràn mủ hoặc tràn dịch màng phổi lượng nhiều gây chèn ép hô hấp. Phẫu thuật mở lồng ngực bóc vỏ màng phổi hoặc cắt phân thùy phổi hoại tử chỉ đặt ra khi có ổ áp xe phổi lớn không đáp ứng với điều trị bảo tồn hoặc xơ dính màng phổi nghiêm trọng. Sau khi hoàn thành đợt dùng thuốc, người bệnh cần tái khám định kỳ theo lịch hẹn để làm lại các xét nghiệm đờm, phân và chụp lại phim phổi nhằm xác nhận ký sinh trùng đã được loại bỏ hoàn toàn và chức năng hô hấp đã hồi phục ổn định.
Phòng ngừa và giảm nguy cơ
Phòng ngừa bệnh sán lá phổi là giải pháp bền vững và hiệu quả nhất nhằm cắt đứt chu trình truyền bệnh trong cộng đồng. Do nguồn lây nhiễm duy nhất sang người là qua đường tiêu hóa khi ăn các vật chủ trung gian chứa nang ấu trùng, việc thay đổi hành vi ăn uống và quản lý vệ sinh nguồn nước có ý nghĩa quyết định trong công tác dự phòng.
Biện pháp quan trọng hàng đầu trong đời sống hàng ngày là thực hiện nghiêm ngặt nguyên tắc ăn chín uống sôi. Tuyệt đối không ăn các món tôm, cua nước ngọt sống, gỏi cua, cua nướng sơ mi hoặc các món ăn chế biến theo phương pháp lên men, ướp muối, ngâm giấm hay ngâm rượu chưa qua nhiệt độ sôi, vì các nang ấu trùng sán lá phổi có sức đề kháng cao và không bị tiêu diệt bởi các gia vị thông thường. Mọi loại thủy hải sản nước ngọt cần được nấu chín kỹ ở nhiệt độ sôi hoàn toàn trước khi sử dụng để đảm bảo ấu trùng đã bị tiêu hủy triệt để.
Trong khâu sơ chế và chế biến thực phẩm tại gia đình, cần chú ý vệ sinh dụng cụ nhà bếp sạch sẽ. Dao, thớt, rổ đựng sau khi dùng để làm sạch tôm cua sống cần được rửa kỹ bằng xà phòng và nước nóng, tránh sử dụng chung thớt thái đồ sống cho các loại thức ăn chín hoặc rau quả ăn sống nhằm loại trừ nguy cơ nhiễm chéo ấu trùng. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt và nấu nướng hàng ngày phải là nước sạch đã qua lọc hoặc đun sôi, không uống trực tiếp nước suối, nước ao hồ tự nhiên chưa qua xử lý.
Tại các địa phương có ổ dịch lưu hành, chính quyền và y tế cơ sở cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, giúp người dân hiểu rõ tác hại của bệnh và loại bỏ các hủ tục ăn uống thiếu an toàn. Song song với đó, việc quản lý và xử lý phân người hợp vệ sinh, không đại tiện bừa bãi xuống nguồn nước ao hồ sông suối, và không sử dụng phân tươi chưa ủ hoai mục sẽ ngăn chặn trứng sán phát tán ra môi trường nước, từ đó bảo vệ nguồn nước và các loài thủy sinh không bị nhiễm mầm bệnh.
Khi nào cần gặp bác sĩ?
Người bệnh cần chủ động đến ngay các bệnh viện hoặc cơ sở y tế chuyên khoa lao, bệnh phổi hoặc bệnh nhiệt đới để được thăm khám khi phát hiện các biểu hiện nghi ngờ mắc bệnh sán lá phổi, nhất là sau khi từng ăn tôm cua nước ngọt sống hoặc vừa trở về từ vùng miền núi có dịch tễ lưu hành.
Các dấu hiệu cảnh báo cần đi khám sớm bao gồm tình trạng ho dai dẳng kéo dài trên hai tuần không rõ nguyên nhân, khạc đờm đặc có lẫn máu tươi hoặc đờm màu sẫm như gỉ sắt, đau tức ngực âm ỉ thường xuyên và cảm giác hụt hơi khi sinh hoạt bình thường. Việc đến khám kịp thời sẽ giúp người bệnh được làm các xét nghiệm chẩn đoán phân biệt chính xác với bệnh lao phổi, tránh tình trạng tự dùng kháng sinh hoặc thuốc giảm ho kéo dài làm che lấp triệu chứng bệnh.
Đặc biệt, người bệnh hoặc người nhà cần gọi cấp cứu hoặc đưa bệnh nhân đến khoa cấp cứu gần nhất ngay lập tức khi xuất hiện các dấu hiệu đe dọa tính mạng. Các tình trạng khẩn cấp này bao gồm ho ra máu ồ ạt từng ngụm lớn gây nghẹt thở, đau ngực dữ dội kèm theo khó thở thanh quản hoặc tím tái môi đầu chi, sốt cao liên tục không hạ, hoặc có các triệu chứng thần kinh cấp tính như co giật toàn thân, đau đầu dữ dội nôn vọt, nhìn đôi, lú lẫn và hôn mê do nghi ngờ sán lá phổi lạc chỗ lên não.
Lưu ý an toàn
Mọi thông tin y tế về bệnh sán lá phổi được cung cấp trong bài viết này chỉ mang tính chất giáo dục và phổ biến kiến thức sức khỏe cộng đồng, hoàn toàn không thay thế cho việc chẩn đoán, tư vấn chuyên môn và phác đồ điều trị cá thể hóa của bác sĩ. Bệnh sán lá phổi có những đặc điểm lâm sàng rất phức tạp và tiến triển âm thầm, do đó người đọc tuyệt đối không được tự ý dựa vào các mô tả triệu chứng để tự kết luận tình trạng bệnh của bản thân hoặc người nhà.
Người bệnh không được tự ý mua và sử dụng các loại thuốc diệt ký sinh trùng lưu hành tự do trên thị trường khi chưa có chỉ định và đơn thuốc từ bác sĩ chuyên khoa. Việc tự điều trị sai hoạt chất hoặc sai liều lượng không những không loại bỏ được mầm bệnh mà còn có thể gây ngộ độc gan, tổn thương thận và tạo ra các phản ứng dị ứng nghiêm trọng nguy hiểm đến tính mạng. Ngoài ra, việc điều trị sán lá phổi đòi hỏi phải có các xét nghiệm theo dõi định kỳ để kiểm tra hiệu quả diệt sán; người bệnh cần tuân thủ tái khám đầy đủ, không tự ý ngừng thuốc hay sử dụng các bài thuốc truyền miệng chưa được kiểm chứng khoa học.
Kết luận
Bệnh sán lá phổi là bệnh lý nhiễm trùng mạn tính đường hô hấp do ký sinh trùng Paragonimus gây ra, bắt nguồn chủ yếu từ thói quen ăn các loại thủy hải sản nước ngọt chưa được nấu chín kỹ. Mặc dù bệnh có thể gây ra những tổn thương nhu mô phổi nghiêm trọng và các biến chứng thần kinh phức tạp nếu sán di chuyển lạc chỗ, nhưng người bệnh có tiên lượng phục hồi rất khả quan nếu được phát hiện kịp thời và tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị của bác sĩ chuyên khoa. Việc nâng cao nhận thức về triệu chứng ho khạc đờm lẫn máu kéo dài, chủ động thăm khám sớm tại các cơ sở y tế uy tín và kiên quyết từ bỏ tập quán ăn tôm cua sống chính là giải pháp then chốt để bảo vệ sức khỏe lá phổi cho bản thân, gia đình và toàn xã hội.
Nguồn tham khảo
FAQ – Câu hỏi thường gặp
Bệnh sán lá phổi có lây truyền trực tiếp từ người sang người không?
Bệnh sán lá phổi hoàn toàn không lây truyền trực tiếp từ người sang người qua đường tiếp xúc hay hô hấp. Trứng sán lá phổi do người bệnh khạc ra ngoài cần phải rơi vào môi trường nước ngọt và trải qua các giai đoạn phát triển bắt buộc trong vật chủ trung gian là ốc và tôm cua nước ngọt mới có khả năng gây nhiễm cho người khác.
Bệnh sán lá phổi có gây sốt không?
Người mắc bệnh sán lá phổi có thể bị sốt, đặc biệt là trong giai đoạn đầu khi ấu trùng sán xâm nhập qua thành ruột và di chuyển trong ổ bụng lên màng phổi. Tình trạng sốt thường đi kèm với mệt mỏi, phát ban da nổi mề đay hoặc rối loạn tiêu hóa nhẹ do phản ứng miễn dịch của cơ thể đối với ấu trùng.
Những đối tượng nào có nguy cơ cao mắc bệnh sán lá phổi?
Những người có nguy cơ cao mắc bệnh gồm người có thói quen ăn tôm cua nước ngọt sống hoặc chế biến chưa chín kỹ như gỏi cua, cua nướng sơ, người sinh sống hoặc làm việc tại các vùng núi có lưu hành bệnh sán lá phổi, và người thường xuyên sử dụng nguồn nước suối tự nhiên chưa qua đun sôi.
Tại sao bệnh sán lá phổi thường bị chẩn đoán nhầm với bệnh lao phổi?
Bệnh sán lá phổi rất dễ nhầm với bệnh lao phổi vì cả hai bệnh đều có biểu hiện ho kéo dài nhiều tháng, ho khạc ra máu, đau tức ngực và sút cân. Tuy nhiên, bệnh sán lá phổi không tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm, xét nghiệm máu thường thấy bạch cầu ái toan tăng cao và có tiền sử ăn cua đá hoặc tôm sống.
Bệnh sán lá phổi có thể tái phát sau khi đã điều trị không?
Bệnh có thể tái phát nếu người bệnh không hoàn thành đủ liệu trình thuốc chỉ định, dùng thuốc không đúng cách khiến sán chưa bị tiêu diệt hoàn toàn, hoặc do người bệnh tiếp tục ăn các món tôm cua nước ngọt chưa chín kỹ dẫn đến tái nhiễm một đợt mầm bệnh mới từ môi trường.
Bệnh sán lá phổi có thể gây tổn thương ở những cơ quan nào ngoài phổi?
Ngoài nhu mô phổi và màng phổi, ấu trùng sán lá phổi có thể di chuyển lạc chỗ đến các cơ quan khác như hệ thần kinh trung ương gồm não và màng não gây co giật, đau đầu; hoặc định vị dưới da tạo thành các khối u cục di động, cũng như ký sinh tại khoang phúc mạc, gan và lách.
